|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 334/2025/HS-PT Ngày: 16/4/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thành Trung
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Lê Na
Ông Nguyễn Ngọc Huân
Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 298/2025/TLPT-HS ngày 27 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị L, Đỗ Văn C do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HSST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
1/ Nguyễn Thị L, sinh năm 1949; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: xóm E, thôn B, xã T, huyện Q, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông: Nguyễn Văn T và con bà: Bùi Thị P ( đều đã chết); Chồng: Đỗ Văn C, sinh năm: 1941 (là bị cáo trong cùng vụ án). Con: Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1975, con nhỏ nhất sinh năm 1980; D chỉ bản số: 416 do Công an huyện Q lập ngày 26/11/2024. Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2/ Đỗ Văn C, sinh năm 1941; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: xóm E, thôn B, xã T, huyện Q, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 1/10;Con ông: Đỗ Văn T1 và Con bà: Bùi Thị V (đều đã chết); Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1949 (là bị cáo trong cùng vụ án); Con: Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1975, con nhỏ nhất sinh năm 1980; D chỉ bản số: 417 do Công an huyện Q lập ngày 26/11/2024; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại có đơn xin xét xử mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn C: Ông Nguyễn Tất D1, Trợ giúp viên: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H - Chi nhánh số 9 Có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Số nhà D, N, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Đỗ Quang T3, sinh năm 1968 và vợ là bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1972; Địa chỉ: Phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương ( ông T3 và bà Y ủy quyền cho anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 2981; HKTT: Tổ A, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội. Theo giấy ủy quyền ngày 30/03/2020 Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2/ Bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1965; HKTT: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội. Bà L1 ủy quyền cho anh Lê Anh Q, sinh năm 1993; HKTT: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số nhà A, Khu đô thị V, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội (Theo giấy ủy quyền ngày 27/11/2024) Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để làm ăn nên ngày 07/11/2011, vợ chồng anh Đỗ Văn V1 và chị Nguyễn Thị T4 ở xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội có ký Hợp đồng tín dụng và H thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên thửa đất số: 14, tờ bản đồ số 84 địa chỉ xóm E, thôn B, xã T, huyện Q, TP Hà Nội (diện tích là 94.4m², theo giấy chứng nhận số BC 603315 ngày 08/12/2010 do UBND huyện Q cấp cho anh V1 và chị T4) với Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 (V3), để vay vốn. Quá trình thực hiện hợp đồng anh V1 và chị T4 vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngày 29/10/2012 ngân hàng V3 có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, ngày 30/11/2012, Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, TP Hà Nội có Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2013/QĐST-KDTM về phương án trả nợ chậm nhất đến ngày 16/5/2013 anh V1 và chị T4 phải thanh toán toàn bộ dư nợ gốc và lãi trong hạn, quá hạn, nếu vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng V3 được quyền yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm để thi hành án. Do không thực hiện được phương án trả nợ đúng hạn theo Quyết định thỏa thuận. Ngày 08/11/2013 Ngân hàng V3 có đơn yêu cầu thi hành án. Chi cục thi hành án dân sự huyện Quốc Oai đã ra Quyết định thi hành án số 06 ngày 19/11/2013. Đến ngày 25/01/2018, Chi cục thi hành án dân sự huyện Quốc Oai làm thủ tục đấu giá tài sản đã thế chấp thì anh Nguyễn Văn T2 là người trúng đấu giá đối với thửa đất số 14 ở xóm E, thôn B, xã T, huyện Q, TP Hà Nội có diện tích là 94.4m² và tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4, diện tích 45m², tường xây 20 bằng gạch chỉ, mái lợp tôn, bên trong nhà có 01 phòng ngủ, gian ngoài dùng để tiếp khách, nền nhà lát gạch men; công trình phụ gồm nhà bếp, nhà tắm và nhà vệ sinh khép kín diện tích 15m²; khu chăn nuôi làm về phía đông (giáp ngõ xóm) gồm 03 ngăn, tường xây nằm giữa các ngăn bằng gạch chỉ, cao 1m, diện tích 20m², phía trên lợp tôn; một phần sân, nền đổ bê tông; một phần tường bao quanh xây bằng gạch chỉ. Do anh V1 và chị T4 không tự nguyện di dời tài sản ra khỏi thửa đất trên nên ngày 11/09/2018, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quốc Oai có Quyết định số: 107 về việc cưỡng chế giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, ngày 12/04/2019 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quốc Oai cùng với các ban ngành liên quan đã lập biên bản về việc cưỡng chế giao tài sản nêu trên cho anh Nguyễn Văn T2, sau khi nhận bàn giao anh T2 đã khóa cửa cổng của mảnh đất. Tuy nhiên, sau đó khoảng 1-2 ngày, Nguyễn Thị L (là mẹ đẻ của anh V1) đã phá khóa cổng và tự ý chuyển đồ đạc vào và cùng chồng là Đỗ Văn C sinh sống trong ngôi nhà nêu trên thuộc quyền quản lý và chỗ ở hợp pháp của anh T2 mà không được sự đồng ý của anh T2. Đến ngày 20/5/2019 anh T2 phát hiện và có đơn trình báo gửi Công an xã T, sau đó chuyển đến Công an huyện Q giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết, mặc dù đã nhiều lần Cơ quan CSĐT - Công an huyện Q phối hợp các đoàn thể, chính quyền địa phương làm việc và thông báo cho Nguyễn Thị L và Đỗ Văn C về việc thửa đất trên đã thuộc quyền sở hữu của người khác, đồng thời vận động, giải thích, yêu cầu những người vi phạm không tiếp tục chiếm giữ trái phép và tự giác trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp nhưng cả hai không chấp hành, vẫn sinh sống tại ngôi nhà và thửa đất trên kể từ đó cho đến nay. Đối với anh Nguyễn Văn T2 sau khi nhận được tài sản, ngày 13/2/2020 anh T2 đã chuyển nhượng toàn bộ đất và tài sản trên đất trên cho anh Đỗ Quang T3 sinh năm: 1968, trú tại: phường T, TP H, tỉnh Hải Dương (anh T3 được Văn phòng Đ chi nhánh huyện Q chứng nhận là chủ sở hữu của thửa đất trên trong giấy CNQSDĐ số BC 603315). Đến ngày 06/4/2023, anh T3 tiếp tục chuyển nhượng thửa đất và tài sản trên cho chị Hoàng Thị L1 (Sinh năm: 1965, trú tại: TDP T, TT Đ, huyện M, TP Hà Nội), chị L1 đã đăng ký biến động thửa đất mang tên Hoàng Thị L1 (được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Q chứng nhận là chủ sở hữu của thửa đất trên trong giấy CNQSDĐ số BC 603315). Quá trình mua bán giữa anh T2, anh T3, chị L1 chỉ thực hiện mua bán trên giấy tờ, do mảnh đất trên vẫn bị bị cáo L và C chiếm giữ nên các bên chưa thực hiện được việc bàn giao đất.
Phần dân sự: Đối với chị Hoàng Thị L1 quá trình điều tra xác định hiện chị L1 đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố H (trong vụ án khác), chị L1 ủy quyền cho con trai là Lê Anh Q là người đại diện hợp pháp cho chị L1, phía chị L1 đề nghị được nhận là thửa đất này do đã mua từ anh T3 và đã đăng ký biến động. Đối với anh T2 (cũng là người được anh T3 ủy quyền giải quyết) yêu cầu C và L trả lại tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở, tài sản gắn liên với đất tại thửa đất số 14 thuộc xóm E, thôn B, xã T, huyện Q, TP Hà Nội (nay chỉnh lý thay đổi thành thửa đất số 33, tờ bản đồ số 13) để bàn giao lại cho chị L1.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 03/2025/HSST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L và bị cáo Đỗ Văn C phạm tội Xâm phạm chỗ ở của người khác.
Căn cứ điểm c, d khoản 1 Điều 158 Bộ luật hình sự; Điểm i, o, x, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị L 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trờng hợp ngời đợc hởng án treo thay đổi nơi c trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo".
Căn cứ điểm c, d khoản 1 Điều 158 Bộ luật hình sự; Điểm i, p, o, x, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đỗ Văn C 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự huyện Q, thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, Thành phố Hà Nội và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Ngoài ra bản án còn tuyên về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 22/01/2025 của bị cáo Nguyễn Thị L, Đỗ Văn C có đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị: Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L, Đỗ Văn C; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
Quan điểm người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn C: Về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo L và chính là đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân các bị cáo không có tiền án, tiền sự, thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bản thân các bị cáo là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng huân huy chương kháng chiến, các bị cáo có trình độ văn hóa thấp, bản thân bị cáo C là người khuyết tật nặng, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên áp dụng điểm i, o, x, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51và Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo L nhưng cho hưởng án treo; Và bị cáo C theo điểm p khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo C được cải tạo không giam giữ với mức hình phạt thấp nhất để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày lời khai như đã trình bày tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Thực hiện quyết định thi hành án số 06 ngày 19/11/2013 của Chi cục thi hành án huyện Quốc Oai, ngày 12/04/2019 Chi cục thi hành án huyện Quốc Oai đã cưỡng chế giao tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản là ngôi nhà nằm trên thửa đất số: 14 địa chỉ xóm E, thôn B, xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BC 603315, do UBND huyện Q cấp ngày 08/12/2010 cho anh Đỗ Văn V1 và chị Nguyễn Thị T4 (là người thế chấp tài sản cho ngân hàng T5) cho người mua trúng đấu giá là anh Nguyễn Văn T2 và đã được đăng ký biến động ngày 17/6/2019 cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn T2. Sau khi nhận bàn giao anh T2 đã khóa cửa cổng của ngôi nhà trên. Khoảng 1-2 ngày sau, Nguyễn Thị L đã tự ý phá khóa cổng và tự ý xâm nhập, chuyển đồ đạc vào sinh sống cùng chồng là ông Đỗ Văn C trong ngôi nhà của anh Nguyễn Văn T2 mà không được sự đồng ý của anh T2. Mặc dù đã được Cơ quan CSĐT - Công an huyện Q cùng các đoàn thể, chính quyền địa phương nhiều lần làm việc, vận động, giải thích, yêu cầu di dời và trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp nhưng bị cáo L và C không chấp hành, không hợp tác với cơ quan chức năng và tiếp tục có hành vi Xâm phạm chỗ ở của người khác trong thời gian liên tục, kéo dài kể từ tháng 04/2019 cho đến nay..
Với hành vi như trên, bị cáo Nguyễn Thị L, Đỗ Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai tuyên bố phạm tội Xâm phạm chỗ ở của người khác theo điểm c, d khoản 1 Điều 158 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L, Đỗ Văn C, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là tự ý phá khóa cổng, cửa và chuyển đồ đạc vào chỗ ở của anh T2 mà không được sự đồng ý của anh T2 gây mất trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý tài sản của anh T2. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hai bị cáo đều trên 70 tuổi, các bị cáo có quan hệ vợ chồng, bị cáo là người có công với cách mạng và đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm i, o, x, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo C là người khuyết tật nặng nên áp dụng thêm điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên tòa bị cáo không xuất trình được các tài liệu chứng cứ mới. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L, Đô Văn C1. Giữ nguyên Bản án số 03/2025/HSST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị L, Đỗ Văn C.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L, Đỗ Văn C.
Giữ nguyên Bản án số 03/2025/HSST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L và bị cáo Đỗ Văn C phạm tội Xâm phạm chỗ ở của người khác.
Căn cứ điểm c, d khoản 1 Điều 158 Bộ luật hình sự; Điểm i, o, x, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị L 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 ( hai mươi bốn ) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trờng hợp ngời đợc hởng án treo thay đổi nơi c trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Căn cứ điểm c, d khoản 1 Điều 158 Bộ luật hình sự; Điểm i, p, o, x, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Đỗ Văn C 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự huyện Q, thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Đỗ Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Thị L, Đỗ Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Thành Trung |
Bản án số 334/2025/HS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về xâm phạm chỗ ở của người khác (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 334/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Xâm phạm chỗ ở của người khác (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L - Điều 158
