|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 334/2024/HS-ST Ngày 12/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lâm Thị Nga
- Bà Huỳnh Thị Tuyết Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Nụ - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 12
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 444/2024/TLST – HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Ngọc T, sinh ngày 20/9/1997 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú hiện nay: tổ D, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Mỹ D, tiền án: không; tiền sự: không; về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Ngày 09/6/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” quy định tại khoản 2 Điều 174 và khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
* Người bị hại: Hồng Hải Đ, sinh ngày: 18/02/2003; nơi cư trú hiện nay: 140/11/12 V, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Đỗ Hoàng K, sinh năm: 1992; nơi cư trú hiện nay: 49/11/1 phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Nguyễn Văn L, sinh năm: 1980; nơi cư trú hiện nay: A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Nguyễn Thanh B, sinh năm: 1975; nơi cư trú hiện nay: F đường K, khu phố H, phường L, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Ngọc T và Hồng Hải Đ ở chung phòng trọ, địa chỉ số A tổ F, khu phố B, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/11/2023, Đoàn Ngọc T lấy trộm chìa khóa xe mô tô; 01 cái ví bằng da màu đen có gắn chữ DAIQISI, bên trong có 340.000 đồng, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 84M1-223.43 được ông Đ để trên tủ quần áo trong phòng trọ và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax đang cắm sạc ở đầu giường. Sau đó, T cắm chìa khóa vừa trộm cắp được vào xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter F1, biển số 84M1-223.43 được ông Đăng dựng ở trong sân nhà trọ, đẩy lùi xe rồi khởi động máy tẩu thoát đến cửa hàng xe máy T, địa chỉ 463-465-626 đường K, khu phố H, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Thanh B làm chủ thì gặp ông Đỗ Hoàng K, là nhân viên của cửa hàng. Tại đây, T nói muốn bán xe mô tô trên với giá 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, do xe đã qua sử dụng, biển số tỉnh nên ông K mua với giá 6.500.000 đồng, T đồng ý. Sau đó, theo yêu cầu thì T đưa cho ông K giấy đăng ký xe mô tô biển số 84M1-223.43 mang tên Hồng Hải Đ. Qua kiểm tra, đối chiếu, ông K thấy số khung, số máy của xe đúng với số khung, số máy trên giấy đăng ký xe nên có hỏi giấy mua bán xe giữa T và Đ thì được T nói giấy tờ mua bán xe đã bị mất. Để làm hợp đồng mua bán xe, T đưa cho ông K xem hình ảnh căn cước công dân của ông Hồng Hải Đ được lưu trữ trên điện thoại di động và đưa cho ông K xem 01 căn cước công dân mang tên Phạm Quốc T2 do T nhặt được trước đó và T đã làm mất sau khi bán được xe cho ông K. Sau đó, ông K gọi điện thoại báo cho ông B biết việc mua xe mô tô nêu trên với số tiền 6.500.000 đồng, ông B đồng ý nên ông K đưa tiền mặt cho T số tiền nêu trên.
Sau đó, T đi xe ôm đến tiệm C, địa chỉ số F đường H, phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Văn L làm chủ để cầm cố điện thoại di động của ông Đ được số tiền 7.200.000 đồng.
Sau khi phát hiện xe mô tô cùng điện thoại di động bị mất trộm, ông Đ nhắn tin yêu cầu T trả lại những tài sản đã lấy trộm thì được T yêu cầu ông Đ đi chuộc xe mô tô và điện thoại di động mà T đã bán và cầm cố trước đó nhưng ông Đ không đồng ý nên đến Công an phường A, Quận A trình báo sự việc.
Đến khoảng 14 giờ ngày 29/11/2023, T đến tiệm C chuộc lại điện thoại di động đã lấy trộm của ông Đ với số tiền 7.444.000 đồng rồi đến Công an phường A, Quận A đầu thú.
* Tại Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐ ĐGTS ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A, kết luận (BL 31-37):
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamha Jupiter FI, màu đen, biển số 84M1-223.43, đã qua sử dụng trị giá 12.500.000 đồng.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, đã qua sử dụng trị giá 9.250.000 đồng.
- + Đối với 01 cái ví da cá nhân màu đen, có gắn chữ DAIQISI không đủ cơ sở định giá.
Tổng số giá trị tài sản T chiếm đoạt của ông Hồng Hải Đ là 22.090.000 đồng.
* Về trách nhiệm dân sự: Ông Hồng Hải Đ không yêu cầu Đoàn Ngọc T bồi thường thiệt hại, còn ông Đỗ Hoàng K yêu cầu Đoàn Ngọc T bồi thường số tiền 6.500.000 đồng (BL 52; 173).
* Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Đoàn Ngọc T:
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số imei 1: 35284311397332, số imei 2: 352843113916784.
- + 01 ví tiền màu đen bên trong có 96.000 đồng tiền Ngân hàng N.
- + 01 giấy phép lái xe tên Hồng Hải Đ.
- Thu giữ của ông Đỗ Hoàng K:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đen, biển số 84M1-223.43, số khung RLCVE1370MY003382, số máy E3S1E1S1192 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 84M1-223.43 mang tên Hồng Hải Đ. Qua xác minh, xe mô tô trên do Hồng Hải Đ đứng tên đăng ký.
Các tài sản trên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã lập biên bản trả cho chủ sở hữu ông Hồng Hải Đ (BL 170-171).
- + 01 biên nhận bán xe có chữ ký Phạm Quốc T2 (lưu hồ sơ vụ án).
- Thu giữ của ông Nguyễn Văn L:
- + 01 hợp đồng cầm cố điện thoại di động Iphone 11 Promax 256 GB, có chữ ký bên B người cầm cố là Hồng Hải Đ, bên A đại diện cửa hàng là Nguyễn Văn L (lưu hồ sơ vụ án).
- Ông Hồng Hải Đ giao nộp 01 USB hiệu Sandick (lưu hồ sơ vụ án).
Bản Cáo trạng số 270/CTr-VKS ngày 28/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Quận 12 để xét xử Đoàn Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đoàn Ngọc T đã nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản”, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo Đoàn Ngọc T có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc T mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định.
Bị cáo Đoàn Ngọc T không có ý kiến gì đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ phạm tội: Trên cơ sở kết quả điều tra cũng như lời khai nhận tội của bị cáo Đoàn Ngọc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, có căn cứ xác định:
Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 26/11/2023, tại địa chỉ số A tổ F, khu phố B, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn Ngọc T đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản là 01 xe mô tô biển số 84M1-223.43 trị giá 12.500.000 đồng; 01 cái ví da màu đen bên trong có 340.000 đồng tiền Ngân hàng N và 01 giấy đăng ký xe mô tô; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, trị giá 9.250.000 đồng của ông Hồng Hải Đ, tổng giá trị tài sản T chiếm đoạt là 22.090.000 đồng, đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
[3] Bị cáo biết hành vi của mình là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là xem thường pháp luật nhà nước, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tạo ra dư luận xấu trong nhân dân nên bị cáo phải chịu hình phạt trước pháp luật.
Với các tình tiết nêu trên xét thấy cần thiết có một mức án thật nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả do bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, quyết định hình phạt nhằm mục đích trừng trị nhưng cũng đồng thời mang tính giáo dục, cải tạo bị cáo trở về làm người lương thiện sau này, sống có ích cho gia đình và xã hội nên Hội đồng xét xử khi nghị án cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[4] Xét về nhân thân bị cáo Đoàn Ngọc T: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: không.
Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; nhận thức lỗi lầm nên ra đầu thú.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Cơ quan điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về dân sự: Bị cáo Đoàn Ngọc T đã bồi thường cho ông Đỗ Hoàng K số tiền 6.500.000 (sáu triệu năm trăm ngàn) đồng và ông Đỗ Hoàng K vắng mặt tại phiên tòa không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Đoàn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc T 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Đoàn Ngọc T chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Xuân Mai |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 334/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 334/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
