|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 334/2024/DS-ST Ngày 28 - 10 - 2024 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Kiều Thị Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Hoàn;
- Ông Phan Văn Cường.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hồng Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 173/2024/TLST- DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 488/2024/QĐXXST-DS ngày 10/10/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Hữu Đức, sinh năm 1957; địa chỉ: số 94A/7, khu phố Nội Hóa 2, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Có mặt
Người đại diện hợp pháp: Anh Bùi Trí Dũng, sinh năm 1982; địa chỉ: số 94A/7, khu phố Nội Hóa 2, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo ủy quyền. Văn bản ủy quyền ngày 06/6/2024. Có mặt
- Bị đơn: Ông Bùi Thế Hiển, sinh năm 1964; địa chỉ: số 70A/8, khu phố Nội Hóa 2, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Anh Võ Tấn Trí, sinh năm 1994 và chị Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1976; địa chỉ liên lạc: Số 108, đường số 1, khu phố Nhị Đồng 2, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo ủy quyền. Văn bản ủy quyền ngày 17/4/2024. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Kiến Trúc, sinh năm 1947; địa chỉ: Số 117, Lý Thường Kiệt, tổ 9, phường Quang Trung, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Bùi Thị Hồng Phú, sinh năm 1940; địa chỉ: Số 1G, đường C4, khu 6, phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Anh Bùi Trí Dũng, sinh năm 1982; địa chỉ: Số 94A/7, khu phố Nội Hóa 2, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/3/2024, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn ông Bùi Hữu Đức và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Bùi Trí Dũng thống nhất trình bày:
Cụ Bùi Thị Việt Khanh là cô ruột của ông Bùi Hữu Đức. Cụ Khanh chết ngày 06/9/2006, được đăng ký khai tử tại UBND phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng tử số 66 ngày 16/10/2006.
Cụ Khanh không có chồng, không có con. Cụ Khanh có cha tên Bùi Thế Trù, sinh năm 1886, mất năm 1946, không có chứng tử; cụ Khanh có mẹ tên Nguyễn Thị Văn, năm sinh không nhớ, mất năm 1946, không có chứng tử.
Ông nội, bà nội và ông ngoại, bà ngoại cụ Khanh tên gì, mất năm nào ông Đức không biết nhưng đều mất trước cụ Khanh. Cụ Khanh có 09 anh em ruột nhưng đều đã chết trước cụ Khanh, gồm:
- Bùi Thị Vy (là chị cụ Khanh), không biết năm sinh và năm mất nhưng mất trước năm 1954, bà Vy có chồng, có con nhưng không biết tên họ tên và hiện nay chồng, con bà Vy còn sống hay đã chết. Trước khi chết bà Vy ở địa chỉ nào không rõ.
- Bà Bùi Thị Tuyết (là chị cụ Khanh), không biết năm sinh và năm mất nhưng mất khoảng năm 1996, bà Tuyết có chồng, có con nhưng không biết tên họ tên và hiện nay chồng, con bà Tuyết còn sống hay đã chết. Trước khi chết bà Tuyết ở địa chỉ nào không rõ
- Ông Bùi Thế Phú (là anh cụ Khanh), sinh năm 1910 và mất năm 1979, không có giấy chứng tử. Vợ ông Phú là ai không biết nhưng đã chết, ông Phú có 01 người con tên Bùi Kiến Trúc, sinh ngày 14/9/1952, hiện đang sống tại địa chỉ số 11 Lý Thường Kiệt, tổ 9, phường Quang Trung, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
- Ông Bùi Thế Thọ (là em cụ Khanh), năm sinh không rõ, chết năm 1945, không có giấy chứng tử, không có vợ, con.
- Ông Bùi Cao Hàn (là em cụ Khanh), sinh năm 06/9/1921, đã mất ngày 02/9/1999, không có giấy chứng tử. Vợ ông Hàn tên Lê Thị Ngùng (đã chết ngày 03/3/2006 (âm lịch), ông Hàn có 01 người con với bà Ngùng là ông Bùi Hữu Đức, ngoài ra ông Hàn còn 01 người con ngoài giá thú nữa là ông Bùi Thế Hiển là bị đơn trong vụ án.
- Ông Bùi Thế Khôi (là em cụ Khanh), không biết năm sinh và năm mất nhưng mất trước năm 1954, ông Khôi không có vợ, không có con.
- Ông Bùi Thế Lâm (là em cụ Khanh), không biết năm sinh và năm mất nhưng mất trước năm 1954, ông Lâm không có vợ, không có con.
- Bà Bùi Thị Thảo (là em cụ Khanh), không biết năm sinh và năm mất nhưng mất trước năm 1954, bà Thảo không có chồng, không có con.
- Bà Bùi Thị Mười (là em cụ Khanh), không biết năm sinh và năm mất nhưng mất trước năm 1954, bà Thảo không có vợ, không có con.
Khi còn sống cụ Khanh có tài sản là diện tích đất 3.124m² quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 5 và 6, tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp Nội Hóa, xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 126 QSDĐ/CQ.1997 do UBND huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương cấp cho cụ Bùi Thị Việt Khanh ngày 15/01/1997. Trong quá trình quản lý, sử dụng đất cụ Khanh có chuyển nhượng cho nhiều người nên diện tích đất còn lại theo đo đạc thực tế hiện nay là 755,1m².
Trước khi cụ Khanh chết có lập di chúc ngày 02/9/2000, di chúc được xác nhận của UBND xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương ngày 13/9/2000. Di chúc của cụ Khanh có nội dung: Cụ Khanh là chủ sử dụng diện tích đất 1.624m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 116 QSDĐ ngày 15/01/1997. Cụ Khanh không có chồng con nên làm bản di chúc để giao quyền thừa kế cho 02 cháu là Bùi Hữu Đức, sinh năm 1957 và Bùi Thế Hiền, sinh năm 1964, tổng diện tích đất thừa kế là 824m², trong khuôn viên có một ngôi đền hiệu Tuần Quán - Linh Từ, nhà ở, kho, bếp giáp Chùa Đức Hòa, người thừa kế phải có trách nhiệm chăm lo, lễ bái, thờ phụng, cúng giỗ cụ Khanh khi qua đời. Di chúc được lập 04 bản: người lập di chúc 01 bản, 02 người được hưởng thừa kế theo di chúc mỗi người 01 bản và 01 bản lưu tại Ban Tư pháp xã.
Trước khi cụ Khanh chết, cụ Khanh ở với người giúp việc đến năm 2000 ông Bùi Hữu Đức ở cùng với cụ Khanh cho đến khi cụ Khanh chết. Sau khi cụ Khanh chết ông Bùi Hữu Đức là người trực tiếp quản lý toàn bộ di sản của cụ Khanh và là người thờ cúng, lễ bái theo nguyện vọng của cụ Khanh. Nhưng bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Bùi Thế Hiển giữ với lý do ông Hiển cho rằng ông Hiển là người giám hộ cụ Khanh khi cụ Khanh còn sống được cụ Khanh giao. Ông Hiển giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi cụ Khanh hấp hối, không được sự chứng kiến của ai, không được sự đồng thuận của ông Đức.
Hiện nay trên phần đất của cụ Bùi Thị Việt Khanh để lại chỉ có ông Đức và con trai ông Đức là anh Bùi Trí Dũng đang ở trên đất. Anh Dũng chỉ ở trên đất cùng với ông Đức, không sửa chữa, xây dựng gì thêm các tài sản trên đất.
Nay, ông Bùi Hữu Đức yêu cầu: Công nhận di chúc của cụ Bùi Thị Việt Khanh lập ngày 02/9/2000 là hợp pháp. Chia thừa kế theo di chúc lập ngày 02/9/2000 đối với di sản của cụ Bùi Thị Việt Khanh là phần quyền sử dụng đất có diện tích 824m² (theo đo đạc thực tế còn lại hiện nay là 755,1m²) thuộc thửa 5, 6, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp Nội Hóa, xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố Nội Hóa 2, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 116QSDĐ/CQ 1997 ngày 15/01/1997 do huyện Thuận An (nay là thành phố Dĩ An) cấp. Ông Bùi Hữu Đức yêu cầu được nhận phần diện tích đất phía trước mặt tiền có ngôi từ đền và phòng khách do cụ Khanh xây dựng để lại và ông Hiển được hưởng di sản của cụ Khanh phía đằng sau từ mí ngoài của bức tường ngôi đền kéo dài về phía cuối đất, ai có tài sản gì trên phần đất được chia thì sẽ được hưởng.
- Theo bản tự khai ngày 01/8/2024 của bị đơn ông Bùi Thế Hiển và lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là anh Võ Tấn Trí và chị Nguyễn Thị Xuân thống nhất trình bày:
Ông Bùi Thế Hiển là cháu ruột của cụ Bùi Thị Việt Khanh.
Cụ Bùi Thị Việt Khanh chết ngày 06 tháng 9 năm 2006. Về quan hệ nhân thân của cụ Khanh: Thống nhất với phần trình bày của phía nguyên đơn, tuy nhiên ông Bùi Thế Hiển là con ruột của cụ Bùi Cao Hàn là anh ruột của cụ Bùi Thị Việt Khanh.
Về tài sản của cụ Khanh: Thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn về tài sản của cụ Khanh khi còn sống.
Về di chúc ngày 02/9/2000 của cụ Khanh: Thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn về thời gian và nội dung của di chúc của cụ Khanh.
Vì vậy đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì phía bị đơn đồng ý công nhận di chúc ngày 02/9/2000 của cụ Bùi Thị Việt Khanh là hợp pháp và chia di sản của cụ Khanh theo đo đạc thực tế là 755,1m² tọa lạc tại khu phố Nội Hóa 2, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho ông Bùi Hữu Đức và ông Bùi Thế Hiển mỗi người ½ diện tích di sản của cụ Khanh tương đương với 377,55m², tuy nhiên để đảm bảo tính nguyên vẹn của các tài sản có xây dựng trên đất của cụ Khanh, theo nguyện vọng của cụ Khanh thì ông Bùi Hữu Đức đồng ý chia làm 02 phần, 1 phần sẽ ở phía sau từ mí ngoài bức tường của ngôi đền kéo sang đến mí ngoài của bức tường phòng khách kéo dài xuống cuối đất; một phần mặt tiền phía trên có ngôi đền và phòng khách, trên đất có tài sản gì thì người đó được hưởng, không ai phải hoàn lại giá trị cho ai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Kiến Trúc có đơn xin giải quyết vắng mặt nhưng lời khai trong quá trình tố tụng trình bày:
Cụ Bùi Thị Việt Khanh là cô ruột của ông Trúc. Cụ Khanh còn có tên gọi khác là Bùi Thị Gấm. Cụ Khanh chết ngày 06/9/2006, được đăng ký khai tử tại UBND phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng tử số 66 ngày 16/10/2006.
Cụ Khanh không có chồng, không có con. Về quan hệ nhân thân của cụ Bùi Thị Việt Khanh, ông Trúc thống nhất với lời khai của ông Bùi Hữu Đức và ông Bùi Thế Hiển về quan hệ nhân thân của cụ Bùi Thị Việt Khanh.
Cụ Khanh được sinh ra tại huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Thành phố Hà Nội) cụ Khanh di cư vào Miền Nam từ năm 1955 và sinh sống tại tỉnh Sông Bé (nay là tỉnh Bình Dương) cho đến khi qua đời. Khi còn sống cụ Khanh ở với người giúp việc, chăm sóc. Đến khi cụ Khanh chết được chôn tại phần đất của cụ Khanh tại thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Khi cụ Khanh chết, ông Trúc không biết cụ Khanh có tài sản gì.
Trước khi cụ Khanh chết ông Trúc nghe nói cụ Khanh có để lại di chúc đối với tài sản của cụ Khanh tại thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho ông Bùi Hữu Đức và ông Bùi Thế Hiển nhưng nội dung di chúc cụ thể như thế nào ông Trúc không rõ. Ông Trúc xác định không liên quan gì đến di sản của cụ Bùi Thị Việt Khanh.
Vì vậy, đối với yêu cầu của ông Bùi Hữu Đức về việc công nhận di chúc của cụ Bùi Thị Việt Khanh lập ngày 02/9/2000 là hợp pháp và chia thừa kế theo di chúc của Bùi Thị Việt Khanh thì ông Trúc đồng ý, ông Trúc đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của di chúc của cụ Bùi Thị Việt Khanh. Ông Trúc không yêu cầu Tòa án chia di sản của cụ Bùi Thị Việt Khanh theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Hồng Phú có đơn xin giải quyết vắng mặt nhưng lời khai trong quá trình tố tụng trình bày:
Bà Bùi Thị Hồng Phú là con của ông Bùi Thế Phú, ông Bùi Thế Phú, sinh năm 1911, chết năm 1979. Ông Bùi Thế Phú là anh ruột của cụ Bùi Thị Việt Khanh.
Như vậy, tôi là cháu ruột của cụ Bùi Thị Việt Khanh, gọi cụ Khanh là cô. Đối với quan hệ nhân thân của cụ Bùi Thị Việt Khanh thì bà Bùi Thị Hồng Phú thống nhất theo những nội dung mà ông Bùi Thế Hiển đã trình bày và nộp cho Tòa án.
Sinh thời, cụ Bùi Thị Việt Khanh được Uỷ ban nhân dân huyện Thuận An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 5 và 6, tờ bản đồ số 04, thửa đất toạ lạc tại ấp Nội Hoá, xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (nay là khu phố Nội Hoá 2, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
Trước khi chết, bà Bùi Thị Hồng Phú được biết cụ Bùi Thị Việt Khanh có lập di chúc (Về việc giao quyền thừa kế sử dụng đất) với nội dung sẽ để lại tài sản là quyền sử dụng đất nêu trên cho hai cháu là ông Bùi Hữu Đức và ông Bùi Thế Hiển với tổng diện tích là 824m². Bà Bùi Thị Hồng Phú nhận thấy di chúc trên là phù hợp với quy định của pháp luật, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Bình An. Diện tích thực tế còn lại bao nhiêu thì bà Bùi Thị Hồng Phú không rõ, bà Bùi Thị Hồng Phú không có tranh chấp.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Hữu Đức tại đơn khởi kiện đã nộp cho Tòa án thì bà Bùi Thị Hồng Phú không có ý kiến. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do bà Bùi Thị Hồng Phú không được cụ Khanh để lại di chúc nên bà Bùi Thị Hồng Phú không yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật cho bà Bùi Thị Hồng Phú.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Trí Dũng trình bày:
Anh Bùi Trí Dũng là con trai của ông Bùi Hữu Đức. Anh Bùi Trí Dũng sinh sống ở đây cùng với ông Bùi Hữu Đức từ năm 2020 cho đến nay. Từ khi anh Bùi Trí Dũng sống ở đây anh Bùi Trí Dũng không tu sửa, xây dựng gì thêm, không có đóng góp đối với các tài sản trên thửa đất số 5,6, tờ bản đồ số 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 356013, số vào sổ 116 QSDĐ/CQ 1997 do UBND huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương cấp ngày 16/01/1997 tọa lạc tại ấp Nội Hóa, xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Về quan hệ nhân thân của cụ Bùi Thị Việt Khanh và di chúc cũng như các vấn đề có liên quan đến vụ án anh Bùi Trí Dũng thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông Bùi Hữu Đức.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá thể hiện:
Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất theo đo đạc thực tế có diện tích 755,1m² thuộc thửa số 05, 06, tờ bản đồ số 04, toạ lạc tại khu phố Nội Hoá 2, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số H 356013, số vào số 116 QSDĐ/CQ 1997 do UBND huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương cấp cho cụ Bùi Thị Việt Khanh ngày 15/01/1997, loại đất: Trồng cây lâu năm. Có giá 13.000.000 đồng/1m², thành tiền là: 755,1m² x 13.000.000 đồng/1m² = 9.816.300.000 đồng. Tài sản gắn liền trên đất gồm: 01 Căn nhà dùng làm từ đường (ngôi Đền) do cụ Khanh xây dựng khoảng năm 1991, có diện tích 159,3m², trị giá 111.160.000 đồng; 01 phòng dùng để tiếp khách do cụ Khanh xây dựng năm 1991, có diện tích 48,3m², trị giá 33.703.740 đồng; 01 bể nước nổi do cụ Khanh xây dựng năm 1991, có thể tích 1,3m³, trị giá 1.129.200 đồng; 02 trang thờ do cụ Khanh xây dựng năm 1991, có trị giá 159.000 đồng; 01 nhà để ở do cụ Khanh xây dựng năm 1991, có diện tích 69,6m², trị giá 48.692.000 đồng; 01 nhà ở 03 tầng do cụ Khanh xây dựng năm 1991, có diện tích sàn 20,3m², trị giá 42.496.000 đồng; 01 bể nước chìm, thể tích 30m³, có giá 28.230.000 đồng; mái che tôn do cụ Khanh xây dựng năm 1991, có diện tích 10m², trị giá 756.000 đồng; 01 kim tỉnh (mộ) có diện tích 19,6m².
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án đã bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Bùi Kiến Trúc và bà Bùi Thị Hồng Phú có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.
Về việc giải quyết vụ án: Đối với di chúc của cụ Bùi Thị Việt Khanh là hợp pháp do phù hợp với quy định của pháp luật cả mặt nội dung và hình thức, di chúc để lại cho ông Bùi Hữu Đức và ông Bùi Thế Hiển cùng hưởng di sản, tương đương 377,55m², tuy nhiên nguyên đơn và bị đơn thống nhất với nhau về việc ông Đức hưởng phần di sản phía trước 02 mặt tiền tương đương với diện tích đất 422,7m² và các tài sản gắn liền trên đất, ông Bùi Thế Hiển được hưởng phần di sản phía sau tương đương với diện tích đất 332,4m² và các tài sản gắn liền trên đất, đây là ý chí tự nguyện của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Bùi Hữu Đực khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc của cụ Bùi Thị Việt Khanh lập ngày 03/6/2000, ông Bùi Thế Hiển là bị đơn hiện đang cư trú tại thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nên đây là vụ án “Tranh chấp về thừa kế tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 5 Điều 26; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
[1.2] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Kiến Trúc và bà Bùi Thị Hồng Phú có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên theo quy định của Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về thời điểm mở thừa kế: Cụ Bùi Thị Việt Khanh chết 06/9/2006, được đăng ký khai tử tại UBND phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng tử số 66 ngày 16/10/2006, nguyên đơn yêu cầu công nhận di chúc của cụ Bùi Thị Việt Khanh lập ngày 02/9/2000, di chúc được xác nhận của UBND xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương ngày 13/9/2000. Căn cứ khoản 1 Điều 633 Bộ luật Dân sự năm 2005 (khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015) quy định “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có di sản chết”, vì vậy thời điểm mở thừa kế là ngày cụ Khanh chết theo giấy chứng tử xác định là ngày 06/9/2006.
[2.2] Về di sản thừa kế: Các đương sự đều thống nhất trước khi chết cụ Khanh có tài sản là quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số thuộc thửa 5,6, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp Nội Hóa, xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (nay là khu phố Nội Hóa 2, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương) có diện tích 3..124 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 116QSDĐ/CQ 1997 do huyện Thuận An (nay là thành phố Dĩ An) cấp ngày 15/01/1997 cho cụ Bùi Thị Việt Khanh, cụ Khanhđã chuyển nhượng cho nhiều người đến thời điểm ngày 24/4/2010, diện tích còn lại theo cập nhật biến động của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 839,15m². Ngày 02/9/2000 cụ Khanh lập di chúc để lại cho ông Bùi Hữu Đức và ông Bùi Thế Hiển diện tích đất 824m² theo đo đạc thực tế hiện nay là 755,1m² thuộc thửa 5,6, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp Nội Hóa, xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (nay là khu phố Nội Hóa 2, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương). Đây cũng là diện tích đất thực tế mà trước khi chết cụ Khanh còn lại. Vì vậy di sản của cụ Khanh theo di chúc ngày 02/9/2000 của cụ Bùi Thị Việt Khanh còn lại là 755,1m² thuộc thửa 5, 6, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp Nội Hóa, xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố Nội Hóa 2, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
[2.3] Xét tính hợp pháp của di chúc ngày 02/9/2000 của cụ Bùi Thị Việt Khanh:
[2.3.1] Về hình thức của di chúc: di chúc ngày 02/9/2000 của cụ Bùi Thị Việt Khanh được lập thành văn bản, có chứng thực của UBND xã Bình An ngày 13/9/2000, di có chữ ký và dấu vân tay của cụ Bùi Thị Việt Khanh là người để lại di chúc và của ông Bùi Hữu Đức và ông Bùi Thế Hiển là người được hưởng thừa kế vì vậy di chúc của cụ Bùi Thị Việt Khanh ngày 02/9/2000 là phù hợp với quy định về hình thức di chúc theo quy định tại Điều 652, Điều 653 Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 627, 636 Bộ luật Dân sự năm 2015);
[2.3.2] Về nội dung của di chúc ngày 02/9/2000 của cụ Bùi Thị Việt Khanh: Di chúc có ghi ngày tháng năm lập di chúc là ngày 02/9/2000; họ tên và nơi cư trú của cụ Khanh là người lập di chúc, họ tên của người được hưởng di sản là ông Bùi Hữu Đức và ông Bùi Thế Hiển; di sản để lại là diện tích 824m² theo đo đạc thực tế hiện nay là 755,1m² thuộc thửa 5, 6 tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp Nội Hóa, xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố Nội Hóa 2, phường Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương). Đối với di sản do cụ Khanh để lại tại di chúc ngày 02/9/2000 có nguồn gốc cụ Khanh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo di chúc để lại diện tích là 824m² theo đo đạc thực tế hiện nay là 755,1m², có sự chênh lệch diện tích tại di chúc so với diện tích hiện nay là do thời điểm lập di chúc không đo đạc thực tế, chỉ áng chừng tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện nay theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Bùi Thị Việt Khanh chỉ còn lại diện tích là 755,1m². Thời điểm lập di chúc cụ Khanh minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép, nội dung của di chúc chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; vì vậy căn cứ Điều 655 Bộ luật Dân sự năm 1995 ( Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015) có cơ sở xác nhận di chúc ngày 02/9/2000 của cụ Bùi Thị Việt Khanh là hợp pháp.
[2.3.3] Theo di chúc của cụ Khanh để lại cho ông Hiển và ông Đức cùng được hưởng di sản của cụ Khanh mỗi người ½, tương đương với diện tích đất 377,55m². Tuy nhiên, ông Đức và ông Hiển thống nhất nhằm để gìn giữ di sản của cụ Khanh, theo di nguyện của cụ Khanh về việc chăm sóc, cúng bái, giữ gìn nguyên vẹn của ngôi đền và các tài sản khác do cụ Khanh xây dựng nên ông Bùi Hữu Đức sẽ được hưởng di sản của cụ Khanh với diện tích 422,7m² từ bức tường của ngôi đền, bức tường phòng khách trở về phía trước (phần có ký hiện A trên bản vẽ kèm theo), ông Bùi Thế Hiển được hưởng diện tích đất 332,4m², từ mí ngoài bức tường ngôi đền, mí ngoài bức tường phòng khách kéo dài đến cuối đất (phần có ký hiện B trên bản vẽ kèm theo). Trên phần đất được chia có tài sản gì thì người đó được hưởng, các bên không phải hoàn trả lại cho nhau giá trị chênh lệch. Đây là ý chí tự nguyện của các bên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.3.4] Từ những phân tích nêu trên xét thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết vụ án phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[8] Chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu 6.894.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản. Nguyên đơn đã nộp đủ. Đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Hữu Đức và ông Bùi Thế Hiển có đơn xin miễn án phí và là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án theo quy định của Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 36; các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 266, 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 652; 653, 655 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 633 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 611, 627, 630, 636, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Hữu Đức với bị đơn ông Bùi Thế Hiển về “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
- - Công nhận di chúc do cụ Bùi Thị Việt Khanh lập ngày 02/9/2000 được Ủy ban nhân dân xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xác nhận ngày 13/9/2000 là hợp pháp.
- - Chia di sản theo di chúc của cụ Bùi Thị Việt Khanh như sau:
Ông Bùi Hữu Đức được quyền quản lý, sử dụng diện tích 422,7m², loại đất trồng cây lâu năm. Trên đất có các tài sản gồm: 01 Căn nhà dùng làm từ đường (ngôi Đền) do cụ Khanh xây dựng khoảng năm 1991, có diện tích 159,3m²; 01 căn phòng dùng để tiếp khách do cụ Khanh xây dựng năm 1991, có diện tích 48,3m²; 01 bể nước nổi do cụ Khanh xây dựng năm 1991, có thể tích 1,3m³; 02 trang thờ do cụ Khanh xây dựng năm 1991 (Phần có ký hiện A trên bản vẽ kèm theo)
Ông Bùi Thế Hiển được hưởng diện tích đất 332,4m², loại đất trồng cây lâu năm. Trên đất có các tài sản gồm: 01 nhà để ở do cụ Khanh xây dựng năm 1991, có diện tích 69,6m²; 01 nhà ở 03 tầng do cụ Khanh xây dựng năm 1991, có diện tích sàn 20,3m²; 01 bể nước chìm, thể tích 30m³; mái che tôn do cụ Khanh xây dựng năm 1991, có diện tích 10m²; 01 kim tỉnh (mộ) có diện tích 19,6m². (Phần có ký hiện B trên bản vẽ kèm theo)
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản:
Ông Bùi Hữu Đức tự nguyện chịu 6.894.000 đồng (sáu triệu tám trăm chín mươi tư nghìn đồng), ông Bùi Hữu Đức đã nộp đủ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Hữu Đức và ông Bùi Thế Hiển được miễn án phí.
4. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Thị Uyên |
Bản án số 334/2024/DS-ST ngày 28/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 334/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Bùi Hữu Đ khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế với ông Bùi Thế H
