|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 334/2024/DS-PT Ngày: 06-8-2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Ngọc Yến |
| Các Thẩm phán: | Bà Trịnh Thị Phúc |
| Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chiêu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 245/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 270/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965.
- Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1965.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Theo đơn khởi kiện ngày 13/11/2023 và quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà T và ông T1 là vợ chồng, vào năm 2022 vợ chồng bà cho ông B vay tiền nhiều lần, tổng số tiền vay là 170.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất, thỏa thuận thời hạn thanh toán nợ là 01 tháng. Khi vay ông B có thế chấp cho vợ chồng bà (bản chính) 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 410, tờ bản đồ số 15, xã Đ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Phạm Văn S đứng tên; tuy nhiên quá thời hạn nhưng ông B không thanh toán nợ. Nay bà T, ông T1 yêu cầu ông B phải thanh toán nợ gốc 170.000.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 180.000.000 đồng, thời hạn trả trong vòng 03 tháng kể từ ngày 25/3/2024. Bà T, ông T1 đồng ý trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 410 cho ông B sau khi ông B hoàn thành nghĩa vụ thanh toán nợ.
- Bị đơn ông Phạm Văn B xác nhận có vay nợ và còn thiếu số tiền gốc và tiền lãi như nguyên đơn trình bày. Ông B xác nhận có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nêu trên do ông Phạm Văn S đứng tên cho vợ chồng bà T để làm tin bảo đảm cho khoản vay. Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông đồng ý trả số nợ gốc và lãi tổng cộng là 180.000.000 đồng, thời hạn trả 03 tháng kể từ ngày 25/3/2024.
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn S trình bày: Trước đây ông có giao cho ông B giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 410, tờ bản đồ số 15, xã Đ, giấy đất do ông đứng tên. Mục đích giao giấy là để cho ông B liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, cập nhật đường giao thông trên giấy. Việc ông B vay vốn và thế chấp giấy nêu trên ông hoàn toàn không biết. Nay ông yêu cầu vợ chồng bà T, ông T1 và ông B phải liên đới trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến thửa 410, tờ bản đồ 15, xã Đ cho ông.
Bà T, ông T1 chỉ đồng ý trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 410, tờ bản đồ 15, xã Đ cho ông Phạm Văn B sau khi ông Phạm Văn B thanh toán xong số nợ.
Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bên không thỏa thuận được nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã quyết định:
Căn cứ các điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 222, 227, Điều 273 và Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 105, điều 166, 167, 168; Điều 463, Điều 466, 468 và khoản 2 Điều 357 Bộ Luật Dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị Thảo về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Phạm Văn B.
Buộc ông Phạm Văn B phải thanh toán cho ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị T số nợ gốc 170.000.000 đồng, tiền lãi 10.000.000 đồng, tổng cộng là 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng). Thời hạn trả trong vòng 03 tháng kể từ ngày 25/3/2024.
- Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Trường hợp bà Nguyễn Thị T, ông Phạm Văn T1 không tự nguyện trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyển số DI 950387 thì ông Phạm Văn S được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kiến nghị, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, quyển số DI 950387 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 02/12/2022 liên quan đến thửa 410, tờ bản đồ số 15 xã Đ, Đ, Long An và đăng ký, kê khai cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa số 410, tờ bản đồ số 15 xã Đ, Đ, Long An theo quy định pháp luật về đất đai.
-
Về án phí:
Ông Phạm Văn B là đối tượng người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm nên không phải nộp.
H lại tiền tạm ứng án phí cho ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị T số tiền 4.900.000 đồng theo biên lai thu số 0006094 ngày 19/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm vụ án; nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không có kháng cáo.
Ngày 13/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 64/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị đối với bản án số 51/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 64/QĐKNPT-VKS-DS ngày 13/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đối với bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, ông Phạm Văn T1; bị đơn ông Phạm Văn B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn S có Đơn xin xét xử vắng mặt tại giai đoạn xét xử phúc thẩm.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt các đương sự trên.
Về nội dung vụ án: Khi vay tiền của bà Nguyễn Thị T, ông Phạm Văn T1; ông Phạm Văn B đã dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn S thế chấp cho vợ chồng bà T, ông T1 để làm tin mà không có sự đồng ý của ông Phạm Văn S là vi phạm quy định pháp luật về chủ thể có quyền về quyền sử dụng đất. Do đó, ông S có quyền khởi kiện yêu cầu bà T, ông T1 và ông B trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, sửa bản án sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo hướng phân tích nêu trong Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 64/QĐKNPT-VKS-DS ngày 13/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 64/QĐKNPT-VKS-DS ngày 13/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An được thực hiện đúng quy định tại Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 279 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, ông Phạm Văn T1; bị đơn ông Phạm Văn B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn S có Đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với những người có tên nêu trên.
[3] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn và bị đơn thống nhất là vào năm 2022, ông B vay tiền nhiều lần của vợ chồng bà T, tổng số tiền vay là 170.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất, thỏa thuận thời hạn thanh toán nợ là 01 tháng. Khi vay tiền, ông B thế chấp cho vợ chồng bà T bản chính 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Phạm Văn S đứng tên tại thửa đất số 410, tờ bản đồ số 15, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Quá thời hạn thỏa thuận nhưng ông B không thanh toán nợ nên vợ chồng bà T khởi kiện yêu cầu ông B phải thanh toán nợ gốc 170.000.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn S yêu cầu vợ chồng bà T, ông T1 và ông B phải liên đới trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 410, tờ bản đồ 15, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An cho ông S. Trước đây, ông S có giao cho ông B giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 410 để ông B liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, cập nhật đường giao thông trên giấy. Việc ông B vay tiền và thế chấp giấy đất của ông, ông hoàn toàn không biết. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 180.000.000 đồng vốn gốc và tiền lãi là có căn cứ. Về việc đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Nguyên đơn, bị đơn và ông S không kháng cáo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An kháng nghị về yêu cầu đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn S.
[4] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, thấy rằng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”...
Trong quá trình tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm, ông Phạm Văn S có yêu cầu nguyên đơn và bị đơn liên đới trả cho ông S giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 410, tờ bản đồ số 15 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Lẽ ra Tòa án phải thụ lý giải quyết yêu cầu đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S trong cùng vụ án. Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm nhận định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản mà chỉ là chứng thư pháp lý thể hiện quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất (quyết định hành chính) nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi có tranh chấp đòi trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét yêu cầu đòi trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn S mà tuyên xử: “Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Trường hợp bà Nguyễn Thị T, ông Phạm Văn T1 không tự nguyện trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyển số DI 950387 thì ông Phạm Văn S được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kiến nghị, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, quyển số DI 950387 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 02/12/2022 liên quan đến thửa 410, tờ bản đồ số 15 xã Đ, Đ, Long An và đăng ký, kê khai cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa số 410, tờ bản đồ số 15 xã Đ, Đ, Long An theo quy định pháp luật về đất đai” là không phù hợp quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông Phạm Văn S. Do đó, quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là có căn cứ chấp nhận.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận, sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân tích như trên.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, ông Phạm Văn T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Phạm Văn B.
Buộc ông Phạm Văn B phải thanh toán cho ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị T số tiền nợ gốc 170.000.000 đồng, tiền lãi 10.000.000 đồng, tổng cộng là 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn S đối với bà Nguyễn Thị T, ông Phạm Văn T1, ông Phạm Văn B về việc đòi trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Phạm Văn T1, ông Phạm Văn B liên đới trả lại 01 (một) bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 950387, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 15808 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 02/12/2022 cho ông Phạm Văn S đối với thửa đất 410, tờ bản đồ số 15, diện tích 391m2, loại đất trồng cây hàng năm khác tại ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị T, ông Phạm Văn T1, ông Phạm Văn B không giao trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì ông Phạm Văn S có quyền liên hệ các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Về án phí:
- Ông Phạm Văn B là đối tượng người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.
- Hoàn trả 4.900.000 đồng (Bốn triệu chín trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí cho ông Phạm Văn T1, bà Nguyễn Thị T theo biên lai thu số 0006094 ngày 19/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Ngọc Yến |
Bản án số 334/2024/DS-PT ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 334/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Phạm Văn B
