|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 334/2024/DS-PT Ngày: 22/4/2024 V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài sản; Yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở; Tranh chấp quyền sở hữu nhà” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Hồng
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu Hương
Bà Lê Thị Ngọc Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thế Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Ông Nguyễn Nam Hưng - Kiểm sát viên.
Vào ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 678/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp về thừa kế; yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở; tranh chấp quyền sở hữu nhà.”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 937/2024/QĐXXPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 4369/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Làu Lỷ C, sinh năm 1959;
- Bị đơn: Ông Làu A W, sinh năm 1968;
Địa chỉ: A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 7 đường số A, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Đỗ Bảo C1, sinh năm: 1980
Địa chỉ: A đường N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trịnh Văn D, sinh năm 1965;
- Bà Lê Thị Xuân T, sinh năm 1971;
- Ông Làu Lỷ S, sinh năm 1953;
- Ông Lầu Lý D1, sinh năm 1956;
- Ông Làu Đức D2, sinh năm 1999;
- Bà Vòng Tú M, sinh năm 1963;
- Bà Dang N, sinh năm 1961;
- Ông Làu Đức C2, sinh năm 1989;
- Bà Làu Lày H, sinh năm 1992;
- Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: B đường B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Cùng địa chỉ: G đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: 324/4/2 đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông D và bà T: Ông Phạm Thiện Tiến P, sinh năm: 1998
Địa chỉ: D đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 72/2023/GUQ-TNJ ngày 16/11/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông D, bà T: Luật sư Đồng Công Khả P1 – Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Địa chỉ: B đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp của ông S: Ông Lầu Lý D1, sinh năm 1956,
Địa chỉ: 9 đường Â, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 001727, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/01/2020)
Địa chỉ: 9 đường Â, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: 7 đường số A, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Hồng A, sinh năm 1983 là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 01/GUQ-UBND ngày 22/01/2024 của A1).
- Văn phòng C4 (tên mới: Văn phòng C5);
Địa chỉ: A đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị S1, địa chỉ: A đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Người làm chứng:
- Bà Lương Tiến P2, sinh năm: 1961; địa chỉ: A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Ngô Phước T1, sinh năm: 1965, địa chỉ: 7 đường N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Làu Lỷ C3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nộp ngày 03/3/2014, Biên bản lấy lời khai, các Biên bản hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Làu Lỷ C3 trình bày:
Cha mẹ bà Làu L Cú là ông Làu Vòong S2, sinh năm 1927 (chết năm 2007) và bà Vòong Sám M1, sinh năm 1927, (chết năm 2002). Cha mẹ bà C3 chết không để lại di chúc và có để lại di sản là căn nhà 11 (số cũ là 1C) L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt nhà 11 L). Căn nhà trên do cha mẹ bà C3 bán nhà số G T, Phường A, Quận A, TP . vào năm 1990, sau đó mua căn nhà số A đường L của ông Hứa Cẩm L1 và bà Tiết Thị H1 để toàn thể gia đình cùng ở. Thời điểm đó, do toàn bộ gia đình bà C3 nộp hồ sơ đăng ký di cư sang Pháp nên cha mẹ bà C3 không đứng tên mua nhà được. Do ông L2 A W mới lấy vợ không đi Pháp được nên cha mẹ để cho ông W đứng tên ký giấy tờ mua nhà. Cha mẹ bà C3 mua nhà với giá 9 lượng vàng SJC, lúc mua căn nhà trên, bà C3 và bà M2 có mượn của bà Lương Tiến P2 04 cây vàng để trả tiền mua nhà. Bà C3 là người trực tiếp giao vàng cho người bán nhưng do thời điểm quá lâu nên không còn giữ giấy tờ giao nhận tiền.
Năm 2013, ông Làu A W và vợ là bà Dang N tự làm thủ tục kê khai đăng ký và được Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR137517 ngày 10/12/2013 cho ông Làu A W và vợ là bà Dang N đứng tên. Nay tại phiên tòa bà xác định giữ yêu cầu chia thừa kế di sản của cha mẹ để lại là căn nhà số A L, Phường A, Quận A, TP .. Bà C3 yêu cầu chia thừa kế trị giá căn nhà cho bà theo giá thị trường hiện nay. Đồng thời, yêu cầu ông W, bà N trả cho bà số tiền sửa chữa nhà bà bỏ ra vào năm 2004 theo trị giá thị trường hiện nay.
Bà xác định cha mẹ bà là ông Làu Vòong S2 và bà V Sám Múi chỉ có 05 người con là Làu Lỷ Cú, Làu A, Làu L, Lầu L, Làu L. Bà hoàn toàn không biết có anh chị em nào tên Làu Lỷ M3 (Làu L) và Làu Lý Q (Làu Lu Q). Theo bà C3, cha mẹ bà khai thêm tên 02 người con nữa là Làu Lỷ M3 và Làu L3 Quay là để hưởng thêm tiền lương lính chế độ cũ nhưng thực tế không có 2 người con này. Bà xác
định hai người này hoàn toàn không có thật.
Ngày 4/12/2018, bà C3 nộp Đơn Khởi kiện bổ sung nội dung như sau:
- Yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất lập ngày 28/11/2016 giữa Làu A W, bà Dang N với ông Trịnh Văn D, bà Lê Thị Xuân T liên quan đến nhà đất số A L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cấp ngày 26/12/2016 cho ông Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T.
- Trong trường hợp bảo vệ quyền lợi của ông Trịnh Văn D và không hủy giao dịch chuyển nhượng và giấy chứng nhận nêu trên, bà yêu cầu ông Làu A W và bà Dang N phải liên đới trả cho bà và các đồng thừa kế giá trị nhà đất là di sản mà bà và các đồng thừa kế được hưởng thừa kế đối với căn nhà nêu trên theo giá trị mới nhất hiện nay trên thị trường.
Đối với yêu cầu của người có quyền, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn D yêu cầu bà giao nhà thì bà không đồng ý. Hiện nay trong nhà 11 L chỉ còn 03 người đang sinh sống là bà, bà Vòng Tú M và ông Làu Đức D2.
Ngày 17/5/2022 và 29/9/2022 bà C3 đã trực tiếp nhận Thông báo yêu cầu đóng tiền tạm ứng chi phí định giá, thẩm định giá tài sản chia thừa kế là nhà và đất tại A L, Phường A, Quận A, TP .. Tuy nhiên bà không đồng ý đóng tiền tạm ứng chi phí tố tụng trên do bà khó khăn về kinh tế và bà không đồng ý bán nhà nên bà không đóng tiền. Bà không biết trị giá nhà hiện nay và các bên cũng không thống nhất được trị giá nhà, đất hiện nay là bao nhiêu.
Theo Biên bản lấy lời khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông L2 A W trình bày:
Nguồn gốc căn nhà số A L do ông Làu A W và bà Dang N mua của Hứa Cẩm L1 và bà Tiết H1 từ năm 1990 theo Văn tự mua bán nhà có chứng nhận của Ủy ban nhân dân Phường A2, Quận A ngày 09/01/1990 và trước bạ nhà đất ngày 27/02/1990. Ông W và bà N đã được Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR137517 ngày 10/12/2013. Ngày 28/11/2016, ông W, bà N đã ký Hợp đồng chuyển nhượng nhà cho ông Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T với giá mua bán nhà là 2.500.000.000 đồng, Hợp đồng công chứng đúng quy định pháp luật. Ông D và bà T đã thanh toán 2.400.000.000 đồng, còn lại 100.000.000 đồng sẽ thanh toán sau khi ông W bà N bàn giao nhà. Ông W không yêu cầu giải quyết đối với số tiền 100.000.000 đồng còn lại.
- Đối với yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn: Bị đơn không đồng ý vì căn nhà trên do vợ chồng ông W bà N mua từ năm 1990 và đã đứng tên chủ sở hữu hợp pháp sau đó bán lại cho vợ chồng ông D và bà T hoàn toàn đúng quy định pháp luật. Riêng việc sửa chữa nhà, nguyên đơn bà Làu Lỷ C3 yêu cầu đòi tiền sửa chữa nhà theo giá thị trường hiện nay, ông B yêu cầu 40.000.000 đồng tiền sửa nhà, ông không đồng ý do tiền sửa nhà do vợ chồng ông W bà N chi trả chứ không
phải do bà Làu Lỷ C3 và ông Làu Lý B1 bỏ ra.
- Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn gồm yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất lập ngày 28/11/2016 giữa Làu A W, bà Dang N với ông Trịnh Văn D, bà Lê Thị Xuân T; yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận nhà đã cập nhật đứng tên ông D, bà T. Ông không đồng ý do đã hoàn tất thủ tục mua bán nhà đúng quy định pháp luật với ông D và bà T. Ông D và bà T đã là chủ sở hữu hợp pháp căn nhà trên.
- Đối với yêu cầu độc lập của ông Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T yêu cầu ông W bà N bàn giao căn nhà trên theo Hợp đồng mua bán nhà hai bên đã ký kết tại Văn phòng C4 ngày 28/11/2016, ông đồng ý với yêu cầu độc lập của ông D và T. Đề nghị Tòa án buộc bà C3 và những người đang cư ngụ trong nhà số A L, Phường A, Quận A phải giao trả nhà cho ông D và T.
- Đối với bản khai nhân khẩu ngày 22/9/1976 hộ gia đình số 11 L, hộ gia đình ông W có tên 02 người con khác của cha mẹ ông tên là Làu Lỷ M3 và Làu L, ông xác định hai người Làu Lỷ Mùi và Làu L3 Quay không phải là con của cha mẹ ông là ông Làu Vòng S3, bà Vòong Sám M1. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Đối với trị giá căn nhà mà bà C3 yêu cầu chia thừa kế căn nhà theo giá thị trường thì bà C3 có nghĩa vụ đóng tiền để định giá, thẩm định giá lại tài sản, ông không yêu cầu thẩm định giá lại căn nhà và các bên cũng không thống nhất được trị giá nhà hiện nay là bao nhiêu.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố theo Đơn yêu cầu phản tố ngày 19/5/2014 về việc buộc bà Làu Lỷ C3, ông Làu Lý B1, bà Vòng Tú M và ông Làu Đức D2 phải ra khỏi nhà số A L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Đồng Công Khả P1 là người đại diện theo ủy quyền của ông Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T trình bày như sau:
Ngày 28/11/2016, ông Làu A W và vợ là bà Dang N đã ký Hợp đồng công chứng chuyển nhượng nhà và đất tại địa chỉ số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Trịnh Văn D và vợ là bà Lê Thị Xuân T. Hợp đồng chuyển nhượng đã được công chứng hợp pháp tại Văn phòng C4. Ngày 26/12/2016, ông D và bà T đã cập nhật tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với nhà và đất nêu trên. Thời điểm mua nhà, ông D có biết nhà đang được ông W thế chấp tại Ngân hàng V1-chi nhánh T2 và thoả thuận giao tiền thành nhiều đợt để giải chấp giấy tờ nhà và ra công chứng. Ông D đã đặt cọc 100.000.000 đồng cho vợ chồng ông W; đợt 1 ngày 21/11/2016 chuyển 600.000.000 đồng vào Ngân hàng V1 để giải chấp giấy tờ nhà 11 L đang thế chấp Ngân hàng. Đợt 2 ngày 28/11/2016 ông chuyển khoản tiếp 1.700.000.000 đồng vào tài khoản của con gái ông W là bà Làu Lày H, đồng thời hai bên ra ký Hợp
đồng công chứng mua bán nhà vào cùng ngày 28/11/2016. Sau đó đến ngày giao nhà là gần tết âm lịch thì ông W nói nhà có người anh là ông Làu Lý B1 vừa mất nên xin dời lại ngày giao nhà và kéo dài cho đến nay. Việc mua bán nhà đã tiến hành đúng quy định pháp luật, ông mua nhà sau khi bản án dân sự phúc thẩm đã có hiệu lực và bản án phúc thẩm đã tuyên ông Làu A W, bà Dang N là chủ sở hữu nhà đúng pháp luật. Do đó, ông D và bà T là người thứ ba ngay tình. Yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D và bà T và công nhận quyền sở hữu nhà cho vợ chồng ông bà.
Việc nguyên đơn yêu cầu khởi kiện chia thừa kế đối với căn nhà A L, Phường A, Quận A, ông D không đồng ý do ông đã mua nhà và đứng tên chủ quyền nhà hợp pháp. Yêu cầu hủy cập nhật biến động trong Giấy chứng nhận nhà đất do ông D và bà T đứng tên ông cũng không đồng ý. Đối với yêu cầu của nguyên đơn và ông Làu Lý B1 yêu cầu ông W trả tiền sửa chữa nhà, ông không có ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Nguyên đơn bà C3 yêu cầu chia thừa kế theo trị giá thị trường, bà C3 có yêu cầu thẩm định giá lại tài sản thì phải có nghĩa vụ đóng tiền tạm ứng chi phí thẩm định giá nhà. Ông D không biết trị giá trên thị trường hiện nay của căn nhà và ông cũng không yêu cầu thẩm định giá đối với căn nhà trên.
Ngày 11/3/2019 ông D nộp Đơn yêu cầu độc lập đề nghị công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 00039471 ngày 28/11/2016; Công nhận giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 137517 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 10/12/2013, cập nhật thay đổi sang tên ông D bà T vào ngày 26/12/2016; yêu cầu những người đang sống trong căn nhà số A L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phải giao trả nhà cho ông bà ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Người đại diện theo uỷ quền của ông D, bà T đề nghị Toà án đình chỉ đối với yêu cầu chia thừa kế của bà Làu Lỷ C3 do bà C3 không đóng tiền tạm ứng chi phí định giá nhà dù Toà án đã nhiều lần yêu cầu đóng tiền định giá.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà L2 Lỷ Cú đối với yêu cầu chia thừa kế là căn nhà số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo giá trị thị trường hiện nay.
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn bà L2 Lỷ Cú về việc yêu cầu ông L2 A W trả cho bà tiền xây dựng sửa chữa nhà A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo giá thị trường.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà L2 Lỷ Cú về việc yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất lập ngày 28/11/2016 giữa ông Làu A W, bà
- Dang N với ông Trịnh Văn D, bà Lê Thị Xuân T liên quan đến nhà đất số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 137517 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/12/2013, cập nhật thay đổi sang tên Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T vào ngày 26/12/2016.
- Đình chỉ đối với yêu cầu của bị đơn ông Làu A W về việc buộc những người đang sinh sống trong nhà A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phải giao trả nhà cho ông Làu A W.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T:
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất lập ngày 28/11/2016 giữa ông Làu A W, bà Dang N với ông Trịnh Văn D, bà Lê Thị Xuân T liên quan đến nhà đất số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có giá trị pháp lý.
- Công nhận quyền sở hữu nhà số A L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là của ông Trịnh Văn D, bà Lê Thị Xuân T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 137517 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 10/12/2013, cập nhật thay đổi sang tên Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T vào ngày 26/12/2016.
- Buộc ông Làu A W, bà Làu Lỷ C3, bà Vòng Tú M và ông Làu Đức D2 phải giao trả nhà A L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Làu Lỷ C3 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án số 133/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện theo ủy quyền cho bị đơn đề nghị số tiền 100.000.000 đồng còn lại sẽ do ông W và ông D bà T tự giải quyết với nhau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháo cho ông D, bà T đề nghị giữ nguyên bản án số 133/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về hình thức: Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến diễn biến phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Làu Lỷ C3 làm trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông Làu Đức D2, bà Vòng Tú M, bà Dang N, ông Làu Đức C2, bà Làu Lày H, bà Nguyễn Thị S1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo tủ tục chung.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự số 133/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về thời điểm mở thừa kế, thời hiệu thừa kế và hàng thừa kế đã được Hội đồng xét xử sơ thẩm làm rõ nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xét.
[2.2] Xét yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế đối với căn nhà A L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo giá thị trường mới nhất hiện nay. Xét thấy:
[2.2.1] Ngày 16/4/2015, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Bản án phúc thẩm số 465/2015/DS-PT tuyên đình chỉ yêu cầu chia thừa kế của bà L2 Lỷ Cú đối với phần di sản của bà Vòng Sám M4; Không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế đối với phần di sản của ông Làu Vòng S3. Đồng thời, buộc bà Làu Lỷ C3, ông Làu Lý B1, bà Vòng Tú M và Làu Đ ra khỏi nhà 11 L giao trả nhà cho ông L2 A Wà trong thời hạn 03 tháng, kể từ khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. Ngày 28/7/2015 Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11 ban hành Quyết định thi hành án số 85/QĐ-CCTHA để thi hành bản án phúc thẩm nêu trên. Bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật và căn nhà trên đã được xác định thuộc quyền sở hữu của ông Làu A W và bà Dang N. Ngày 28/11/2016, ông Làu A W và vợ là bà Dang N đã ký Hợp đồng công chứng chuyển nhượng nhà và đất tại địa chỉ số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Trịnh Văn D và vợ là bà Lê Thị Xuân T là hợp pháp theo đúng quy định tại các Điều 117, 118, 120 và 121 Luật nhà ở năm 2014. Ngày 26/12/2016, ông D và bà T đã cập nhật tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với nhà và đất nêu trên.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về việc
bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình và căn cứ hướng dẫn tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/04/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao quy định về giao dịch giữa người thứ ba ngay tình với người được Bản án tuyên là chủ sở hữa tài sản theo Bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Bản án sơ thẩm xác định ông D, bà T là người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ, từ đó chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.2.2] Bên cạnh đó, bà C3 yêu cầu chia thừa kế nhà theo giá trị thị trường hiện nay nhưng không xác định được trị giá nhà hiện nay là bao nhiêu, tại các phiên hòa giải và phiên tòa sơ thẩm, các bên cũng không thống nhất được trị giá nhà hiện nay. Toà án đã nhiều lần tống đạt trực tiếp Thông báo đóng tiền tạm ứng chi phí định giá, thẩm định giá nhà cho bà C3 nhưng bà không đồng ý đóng tiền tạm ứng chi phí trên nhưng bà C3 vẫn không đóng xem như từ bỏ yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của mình và Toà án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu khởi kiện về nội dung chia thừa kế của nguyên đơn theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Công văn hướng dẫn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 là có căn cứ.
[2.3] Xét yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn trả số tiền xây dựng, sửa chữa nhà A L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo giá thị trường nhưng bà C3 không cung cấp chứng cứ chứng minh cho số tiền vật tư xây dựng bà bỏ ra mua. Ngoài ra theo Công văn số 246/UBND ngày 08/03/2023 của Ủy ban nhân dân Phường A2, Quận A xác định từ năm 1990 đến nay căn nhà 11 L không có hồ sơ đăng ký sửa chữa hoặc xây dựng nhà. Bên cạnh đó bà C3 yêu cầu bị đơn trả cho bà tiền xây dựng sửa chữa nhà theo giá thị trường hiện nay nhưng không đồng ý đóng tiền định giá nhà, thẩm định giá xây dựng nhà để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu trên của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
[2.4] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất lập ngày 28/11/2016 giữa ông Làu A W, bà Dang N với ông Trịnh Văn D, bà Lê Thị Xuân T và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cấp ngày 26/12/2016 cho ông D và bà T. Xét thấy, nhà đất trên đã được công nhận hợp pháp cho ông Làu A W, bà Dang N theo bản án đã có hiệu lực pháp luật và việc chuyển nhượng nhà, đất nêu trên giữa ông Làu A W, bà Dang N với ông Trịnh Văn D, bà Lê Thị Xuân T đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên các yêu cầu trên của nguyên đơn cũng không có cơ sở chấp nhận.
[2.5] Từ những phân tích và nhận định trên. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà Làu Lỷ C3.
[3] Về án phí:
[3.1] Án phí dân sự sơ thẩm:
- Hoàn trả cho bà Làu L Cú số tiền là 10.360.000 (mười triệu ba trăm sáu mươi nghìn) đồng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AC/2011/09412 ngày 10/03/2014 và AC/2011/09944 ngày 05/8/2014 của Chi cục thi hành án Dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Do bà Làu Lỷ C3 không đồng ý làm Đơn xin miễn án phí đối với người cao tuổi nên bà C3 phải chịu số tiền án phí đối với hai yêu cầu không được chấp nhận tổng cộng là 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng. Được cấn trừ vào số tiền bà C3 đã đóng là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2016/009901 ngày 18/3/2019 của Chi cục thi hành án Dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà C3 còn phải nộp thêm số tiền 300.000 đồng.
- Hoàn trả cho ông Làu A W số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AC/2011/09711 ngày 20/5/2014 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả cho ông Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T số tiền 900.000 (chín trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0020078; Biên lai số AA/2021/0020079 và Biên lai số AA/2021/0020080 cùng ngày 19/5/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà Làu Lỷ C3 không được chấp nhận nên bà C3 phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng. Bà C3 là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm nên bà C3 phải nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 133/2023/DS-ST ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà L2 Lỷ Cú đối với yêu cầu chia thừa kế là căn nhà số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo giá trị thị trường hiện nay.
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn bà L2 Lỷ Cú về việc yêu cầu ông L2 A W trả cho bà tiền xây dựng sửa chữa nhà A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo giá thị trường.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà L2 Lỷ Cú về việc yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất lập ngày 28/11/2016 giữa ông Làu A W, bà
- Dang N với ông Trịnh Văn D, bà Lê Thị Xuân T liên quan đến nhà đất số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 137517 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/12/2013, cập nhật thay đổi sang tên Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T vào ngày 26/12/2016.
- Đình chỉ đối với yêu cầu của bị đơn ông Làu A W về việc buộc những người đang sinh sống trong nhà A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phải giao trả nhà cho ông Làu A W.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T:
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất lập ngày 28/11/2016 giữa ông Làu A W, bà Dang N với ông Trịnh Văn D, bà Lê Thị Xuân T liên quan đến nhà đất số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có giá trị pháp lý.
- Công nhận quyền sở hữu nhà số A L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là của ông Trịnh Văn D, bà Lê Thị Xuân T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 137517 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 10/12/2013, cập nhật thay đổi sang tên Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T vào ngày 26/12/2016.
- Buộc ông Làu A W, bà Làu Lỷ C3, bà Vòng Tú M và ông Làu Đức D2 phải giao trả nhà A L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Việc thực hiện các phần nội dung của quyết định nêu trên được thực hiện song song cùng một lúc ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[6] Về án phí:
[6.1] Án phí dân sự sơ thẩm:
- Hoàn trả cho bà Làu L Cú số tiền là 10.360.000 (mười triệu ba trăm sáu mươi nghìn) đồng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AC/2011/09412 ngày 10/03/2014 và AC/2011/09944 ngày 05/8/2014 của Chi cục thi hành án Dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Do bà Làu Lỷ C3 không đồng ý làm Đơn xin miễn án phí đối với người cao tuổi nên bà C3 phải chịu số tiền án phí đối với hai yêu cầu không được chấp nhận tổng cộng là 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng. Được cấn trừ vào số tiền bà C3 đã đóng là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2016/009901 ngày 18/3/2019 của Chi cục thi hành án Dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà C3 còn phải nộp thêm số tiền 300.000 đồng.
- Hoàn trả cho ông Làu A W số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AC/2011/09711 ngày 20/5/2014 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả cho ông Trịnh Văn D và bà Lê Thị Xuân T số tiền 900.000 (chín trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0020078; Biên lai số AA/2021/0020079 và Biên lai số AA/2021/0020080 cùng ngày 19/5/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
[6.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà Làu Lỷ C3 không được chấp nhận nên bà C3 phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng. Bà C3 là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm nên bà C3 phải nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0021406 ngày 15/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Làu Lỷ C3 đã nộp đủ án phú dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Việt Hồng |
Bản án số 334/2024/DS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản; yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở; tranh chấp quyền sở hữu nhà
- Số bản án: 334/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản; Yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở; Tranh chấp quyền sở hữu nhà
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
