|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE Bản án số: 334/2020/DS - PT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Kim Của |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Ngọc Hương Bà Hồ Thị Thanh Thúy |
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Triệu Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 256/2020/TLPT- DS ngày 12 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 48/2020/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 225/2020/QĐ-PT ngày 23 tháng 10 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1967 (có mặt);
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Bị đơn: Bà Quách Cẩm L, sinh năm 1978 (có mặt);
Địa chỉ: Số nhà 15/3, đường 19/5, khu phố 2, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Diếp Văn T1, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Số nhà 15/3, đường 19/5, khu phố 2, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Người đại diện theo ủy quyền của ông T1: Ông Nguyễn Đình L1, sinh năm 1960 (Văn bản ủy quyền ngày 02/12/2020, có mặt);
Địa chỉ: Số nhà 688/44 Hương Lộ 2, B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. - Người kháng cáo: Bị đơn bà Quách Cẩm L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Diếp Văn T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:
Trước đây bà Làm chủ hụi, bà Quách Cẩm L có tham gia chơi nhiều dây hụi và đã hốt tất cả các dây hụi nhưng không đóng lại hụi chết cho bà, bà phải bù tiền để đóng hụi thay cho bà L. Đến ngày 24/9/2013 (âm lịch) bà và bà L có chốt lại số tiền hụi mà bà đã đóng thay cho bà L và bà L có viết biên nhận nợ là còn nợ bà số tiền 245.805.000đ. Từ khi viết biên nhận nợ cho đến năm 2018 bà L không thực hiện việc trả nợ cho bà. Ngày 15/11/2018 (âm lịch) bà L có viết biên nhận là hứa trả cho bà mỗi tháng 2.000.000đ nhưng bà L cũng không thực hiện việc trả lại số tiền mà bà đã đóng hụi thay cho bà L. Khi chơi hụi, ông T1 là chồng bà L có biết việc bà L chơi hụi và nợ tiền hụi của bà và hiện nay hai vợ chồng bà L vẫn sống chung làm ăn kinh tế chung, nên bà yêu cầu bà Quách Cẩm L và ông Diếp Văn T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ là 245.805.000đ.
Do bà L, ông T1 nợ tiền hụi bà quá lâu không trả nên bà yêu cầu bà L, ông T1 phải có nghĩa vụ liên đới trả tiền lãi đối với số nợ trên theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 24/9/2013 (âm lịch) nhằm ngày 28/10/2013 (dương lịch) cho đến ngày 28/5/2020 là 06 năm 7 tháng với số tiền lãi là 161.821.625đ.
Tổng cộng bà yêu cầu bà L, ông T1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền 407.626.625đ (Bốn trăm lẻ bảy triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng).
Bị đơn bà Quách Cẩm L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Diếp Văn T1 trình bày:
Từ năm 2008, bà Quách Cẩm L có tham gia chơi nhiều dây hụi do bà Trần Thị T làm chủ hụi. Năm 2013, bà L, ông T1 có chốt nợ với bà T là bà L, ông T1 còn nợ bà T số tiền 245.805.000đ. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, làm ăn thua lỗ nên bà L, ông T1 không có khả năng trả số tiền nợ hụi cho bà T. Nay bà L, ông T1 đồng ý liên đới trả cho bà T số tiền hụi chết còn nợ là 245.805.000đ.
Do khi chốt nợ năm 2013, hai bên không có nói thời hạn khi nào trả nên bà L, ông T1 không đồng ý trả lãi từ ngày 24/9/2013 âm lịch. Đến ngày 15/11/2018 thì bà L có hứa trả cho bà T một tháng 2.000.000đ nhưng không có trả nên đồng ý trả lãi từ ngày 15/11/2018 (âm lịch) là ngày 21/12/2018 (dương lịch) cho đến khi trả xong nợ cho bà T với mức lãi suất 10%/năm. Tạm tính đến ngày 11/6/2020 là 18 tháng với số tiền 36.870.750đ.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Diếp Văn T1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Quách Cẩm L. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 48/2020/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T. Buộc bà Quách Cẩm L và ông Diếp Văn T1 phải liên đới trả cho bà Trần Thị T số tiền 296.061.471 (hai trăm chín mươi sáu triệu, không trăm sáu mươi mốt ngàn, bốn trăm bảy mươi mốt) đồng, trong đó tiền vốn là 245.805.000 đồng và tiền lãi là 50.256.474 đồng.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về việc yêu cầu bà Quách Cẩm L và ông Diếp Văn T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền 111.565.154 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Quách Cẩm L và ông Diếp Văn T1 phải liên đới nộp số tiền án phí là 14.803.000 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Quách Cẩm L không phải chịu, hoàn cho bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng. Ông Diếp Văn T1 phải chịu số tiền án phí là 300.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bến Tre; - TAND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Kim Của |
Bản án số 334/2020/DS - PT ngày 04/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 334/2020/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2020
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo bị đơn, sửa án sơ thẩm
