TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THÀNH PHỐ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 333/2023/HS-ST Ngày 29/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN, THÀNH PHỐ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông
- Các Hội thẩm nhân dân: 1 - Bà
- 2 - Bà
- - Thư ký phiên tòa: Bà - Cán bộ Tòa án nhân dân quận, thành phố.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận thành phố tham gia phiên tòa: Ông - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận, thành phố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 300/2023/TLST, ngày 9 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 303/2023 ngày 13/10/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 37/2023/QĐ-HPT ngày 30/10/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 39/2023/QĐ-HPT ngày 9/11/2023 của Tòa án nhân dân quận đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Đoàn Hải B, sinh năm 1985. Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam. HKTT: Tổ dân phố N, Đ, B, H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông: Đoàn Ngọc T. Con bà: Ngô Thị N. Đều trú tại: Tổ dân phố N, Đ, B, H. Gia đình có bị cáo là con duy nhất. Vợ: Lại Thị H, sinh năm 1986 (đã ly hôn năm 2019). Con: Đoàn Nhật M, sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú ngày 15/5/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1- Công an thành phố H. Số giam: 2530C2/19. Có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Bùi Diệu L, sinh năm 1986. Tên gọi khác: không. Giới tính: Nữ. HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện M, H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông: Bùi Chí D. Con bà: Đinh Thị L1. Đều trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện M, H. Gia định có hai chị em, bị cáo là con lớn nhất. Chồng, con: không. Tiền án, tiền sự: Không.
Đảng viên. Bị cáo bị khai trừ Đảng tháng 8 năm 2022.
Bị cáo đầu thú ngày 15/5/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1- Công an thành phố H. Số giam: 2614C2/M1. Có mặt tại phiên toà.
Người bị hại:
1. Công ty TNHH Một thành viên D2 nay là Công ty TNHH A1. Đại diện theo pháp luật ông Lê Chí T1, chức vụ Tổng Giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền Đặng Xuân L2, sinh 1983. Địa chỉ: P2309 CT1 Chung cư COMA6, T, N, H2. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Nguyên Đơn dân sự: Ngân hàng TMCP K1. Địa chỉ trụ sở: 191, phường L, quận H, thành phố H. Đại diện theo pháp luật ông Hồ Hùng A-Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị. Đại diện theo uỷ quyền bà Phạm Thị N1. Đại diện uỷ quyền lại Công ty TNHH Một thành viên Q và khai thác nợ và tài sản-N3. Đại diện theo uỷ quyền ông Đinh Quang H1. (Văn bản uỷ quyền số 3996/2023/UQ-AMC, ngày 19/8/2023). Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Hải B là chủ sở hữu đăng ký chiếc xe ôtô Kia CERATO KOUP, màu đỏ, BKS: 30E – 152.61. Ngày 14/4/2016, B đã ký hợp đồng tín dụng số 1239 vay số tiền 390.000.000 đồng của Ngân hàng T2 chi nhánh C – Phòng giao dịch Trần Nhật D1 - H và để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng, B đã ký hợp đồng thế chấp tài sản số 1240 ngày 14/4/2016, thế chấp chiếc ôtô Kia CERATO KOUP, màu đỏ, BKS: 30E – 152.61 cho ngân hàng T2. Trong quá trình thức hiện hợp đồng tín dụng, do B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngân hàng T2 đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn số 004144 ngày 31/10/2019 và số 004550 ngày 11/11/2019. Đến ngày 14/3/2023, Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản thuộc Ngân hàng T2 đã ra quyết định số 0001203 về việc thu giữ tài sản bảo đảm và Thông báo về việc thu giữ tài sản bảo đảm số 0001205 đối với chiếc xe ôtô Kia CERATO KOUP, BKS: 30E – 152.61 của Đoàn Hải B và đã ủy quyền cho anh Nguyễn Huy P (Sinh năm: 1992, trú tại: P T, T, H, là chuyên viên xử lý nợ) thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm. Ngày 20/3/2023, anh Nguyễn Huy P phát hiện chiếc xe ôtô của B để trong bãi trông giữ xe tại khu LK6, KĐT Đ, T, T, H nên đã liên lạc với B để làm việc nhưng B không ra làm việc mà gọi điện cho Bùi Diệu L bảo L ra xem sự việc thế nào rồi báo lại cho B. L đồng ý và đi từ nhà trọ tại khu đô thị Đ, xã T, T, H ra bãi trông giữ xe tại khu LK6, KĐT Đại Thanh để xem sự việc. Tại đây, anh
P cho L xem các quyết định và thông báo về việc thu hồi tài sản đảm bảo để L thông báo với B ra làm việc. Sau khi xem, L đã thông báo và gửi hình ảnh chụp quyết định thu hồi xe ôtô cho B, nhưng do B vẫn không đến làm việc nên anh P đã liên hệ với chính quyền địa phương để tiến hành lập biên bản niêm phong và thu giữ chiếc ôtô Kia CERATO KOUP, BKS: 30E – 152.61 của B theo quyết định thu giữ tài sản bảo đảm. Sau khi thu giữ tài sản, anh P đã cho cẩu chiếc xe ôtô trên về gửi tại bãi trông giữ xe ôtô của Công ty TNHH một thành viên D2 do anh Đăng Xuân L3 (Sinh năm: 1983, trú tại: Tổ dân phố N, T, N, H) chịu trách nhiệm quản lý trên đường F KĐT T, phường X, N, H để gửi xe theo Hợp đồng hợp tác bãi rửa xe ngày 25/6/2020 giữa Công ty TNHH một thành viên D2 và anh Đặng Xuân L2.
Sau khi bị ngân hàng thu giữ tài sản và bị cẩu xe ôtô đi, B đã tìm kiếm và biết được vị trí chiếc xe đang được gửi giữ tại bãi trông giữ xe ôtô trên đường F KĐT T nên B đã bàn bạc với L để lên kế hoạch lấy trộm chiếc xe ôtô. B và L thống nhất với nhau là B sẽ mang theo chìa khóa xe còn L sẽ đi thuê một chiếc xe ôtô để chở B ngồi ở hàng ghế sau, sau đó L sẽ lái xe vào bãi xe gửi rồi xuống xe trước để xem có sơ hở của nhân viên trông giữ, còn B ngồi trên xe nếu thấy nhân viên trông giữ không để ý sẽ đi thẳng ra vị trí để lấy trộm xe ôtô đi ra ngoài. Sau khi thống nhất xong, L đến khu vực H thuê một chiếc xe ôtô Kia – Morning, màu trắng (không nhớ rõ biển kiểm soát) của anh Đặng Quốc L4 (Sinh năm: 1986, trú tại: Q, H, H) rồi điều khiển xe chở B đến bãi trông giữ xe ôtô trên đường F của anh L2 để trộm xe ôtô. Khoảng 19 giờ ngày 21/3/2023, L điều khiển xe ôtô Kia – Morning chở theo B ngồi ở hàng ghế sau đi thẳng vào bãi trông giữ xe Foresa 8, lúc này các anh Lò Khăm K (Sinh năm: 2006, trú tại: xã H, Q, TH), anh Hồ Thế Đ (Sinh năm: 2004, trú tại: T, A, TT) và anh Hồ Văn Đ1 (Sinh năm: 2006, trú tại: T, A L5, TT) là nhân viên trông giữ bãi xe đang ngồi ăn cơm phía bên ngoài cổng. Khi L lái xe đến thì anh K hướng dẫn chỗ cho L đỗ rồi tiếp tục ra ăn cơm. Sau khi L đỗ xe xong, L xuống xe rồi đi vòng ra ngoài bãi xe còn B vẫn ngồi trên xe. Sau đó, B quan sát phát hiện các nhân viên trông giữ đang ngồi ăn cơm, không để ý nên B đã xuống xe rồi đi thẳng ra chỗ đỗ của chiếc xe Cerato Koups, BKS: 30E – 152.61, B xé giấy niêm phong ở cửa trước của ôtô và dùng chìa khóa xe mang theo từ nhà nổ máy rồi điều khiển xe đi ra khỏi bãi xe. B điều khiển xe đi được khoảng 20 phút thì gọi điện cho L báo đã lấy được xe và nói sẽ trốn đi vài ngày nên L quay vào bãi giữ xe lấy xe Kia – Morning đi về và trả ôtô cho anh L4.
Khoảng 18 giờ ngày 22/3/2023, chị Nguyễn Thị N2 (Sinh năm: 1987, trú tại: G, G, ND) là nhân viên của bãi trông giữ xe đi kiểm tra các xe trong bãi phát hiện thấy mất chiếc xe ôtô nói trên nên đã kiểm tra Camera an ninh lắp đặt trong bãi, xác định vào khoảng 19 giờ ngày 21/3/2022 có 01 người phụ nữ mặc bộ quần áo màu đen điều
khiển xe ôtô kiểu dáng xe Kia Morning (không rõ BKS của xe) vào trong bãi gửi xe, sau khi gửi xe người phụ nữ này bỏ đi ra ngoài, khoảng 10 phút sau có 01 người đàn ông ngồi ở ghế sau của xe ôtô Kia Morning mở cửa đi ra rồi dùng chìa khóa chuẩn bị từ trước mở cửa chiếc xe kia Cerato koup BKS: 30E – 152.61 rồi nổ máy xe đi ra khỏi bãi xe, người phụ nữ sau đó quay lại lấy xe Kia Morning rồi bỏ đi. Đến ngày 23/3/2023, anh Đặng Xuân L2 đã đến Công an phường X trình báo nội dung sự việc.
Ngày 15/5/2023, Đoàn Hải B và Bùi Diệu L đã đến Cơ quan CSĐT - Công an quân N4 đầu thú và khai khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ của Đoàn Hải B: 01 xe ôtô KIA CERTO KOUP, màu đỏ, BKS: 30E – 152.61.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 108/KLĐGTS ngày 20/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N, kết luận: trị giá xe ôtô KIA CERTO KOUP, màu đỏ, BKS: 30E – 152.61 là 250.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 3988 ngày 09/6/2023 của V - Bộ C1, xác định: số khung: KNAFW612BA5164724, số máy: G4KD9H556531 của xe ôtô KIA CERTO KOUP, màu đỏ, BKS: 30E – 152.61 là nguyên thủy.
Ngày 16/6/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả chiếc xe ôtô KIA CERTO KOUP, màu đỏ, BKS: 30E – 152.61 cho anh Đăng Xuân L3 tiếp tục trông giữ và bảo quản theo hợp đồng trông giữ tài sản với Ngân hàng T2 ngày 31/12/2022.
Đối với anh Đặng Quốc L4, người đã cho Bùi Diệu L thuê chiếc xe ôtô Kia Morning, anh L4 khai không nhớ cho L thuê xe ôtô Kia Morning biển kiểm soát nào và không biết L thuê xe để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về dân sự: Đặng Xuân L2 và Ngân hàng T2 đều không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 290/CT-VKSNTL ngày 9/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận truy tố bị cáo Đoàn Hải B và Bùi Diệu L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo B, Diệu L khai nhận: Khi B biết xe ô tô KIA CERTO KOUP, màu đỏ, BKS: 30E – 152.61 của B được Ngân hàng T2 gửi giữ tại bãi trông giữ xe ôtô trên đường F KĐT T, phường X, N, H, nên B đã bàn nhờ L thuê xe ô tô để cùng B vào gửi giữ xe, khi vào trong đó B ở lại trong bãi xe, còn L lại đi xe ô tô ra ngoài. B sẽ đợi nhân viên trong giữ sơ hở thì sẽ lấy xe ô tô KIA CERTO KOUP, màu đỏ, BKS: 30E – 152.61 của B vì B vẫn đang giữ chìa khoá xe để đi ra ngoài. Thực hiện ý định đó, khoảng 19 giờ ngày 21/3/2023, B và L đã đi xe ô tô kia Moning vào bãi xe và L đi ra
ngoài, B đã lợi dụng sự sơ hở của nhân viên trông giữ bãi xe ăn cơm không để ý, B lén lút lấy chiếc xe ôtô KIA CERTO KOUP, màu đỏ, BKS: 30E – 152.61, là tài sản của Đoàn Hải B đã thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng T2 và đã bị ngân hàng quyết định thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ, đang được gửi giữ tại bãi xe đi ra ngoài. Sau khi lái xe ô tô ra ngoài, B thông báo cho L đã lấy được xe và đi về, L cũng đi về. Sự việc bị phát giác, chủ bãi xe trình báo cơ quan công an nên ngày 15/5/2023, B và L đã ra đầu thú tại cơ quan Công an quận N4. Nay các bị cáo nhận ra sai phạm xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại hại vắng mặt tại tòa.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đoàn Hải B và Bùi Diệu L và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Đoàn Hải B từ 8 năm – 8 năm 6 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/05/2023; xử phạt Phạt Bùi Diệu L từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/05/2023.
Vật chứng: Đã được xử lý ở giai đoạn điều tra nên không đặt vấn đề giải quyết. Dân sự: Không.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Lời nói sau cùng, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận, thành phố H, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, người bị hại, người liên quan, nhân chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ
ngày 21/3/2023, tại bãi trông giữ xe ôtô trên đường F KĐT T, phường X, N, H, Đoàn Hải B và Bùi Diệu L đã có hành vi trộm cắp chiếc xe ôtô KIA CERTO KOUP, màu đỏ, BKS: 30E – 152.61 (là tài sản của Đoàn Hải B đã thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng T2 và đã bị ngân hàng quyết định thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ) đang được gửi giữ tại bãi gửi xe (theo hợp đồng trông giữ xe giữa Công ty TNHH một thành viên D2 với Ngân hàng T2 chi nhánh C – Phòng giao dịch T, H ngày 31/12/2022) do anh Đặng Xuân L2 làm chủ trông giữ, quản lý. Giá trị chiếc xe ô tô KIA CERTO KOUP, màu đỏ, BKS: 30E – 152.61, được định giá theo tố tụng hình sự là 250.000.000đồng.
Vì vậy, đủ căn kết luận Đoàn Hải B, Bùi Diệu L đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được BLHS bảo vệ, gây mất trật tự, trị an xã hội. Giá trị tài sản các bị cáo thực hiện có giá trị lớn, vì vậy xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian là thỏa đáng.
Song khi lượng hình, đánh giá tính chất, động cơ mục đích phạm tội của các bị cáo là do sự thiếu nhận thức về pháp luật dẫn đến vi phạm pháp luật không vì mục đích trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài cá nhân hay sử dụng vào mục đích khác. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Thiệt hại xảy ra đã được thu hồi, nhân thân các bị cáo trước khi phạm tội đều chưa có tiền án tiền sự. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó Đoàn Hải B là kẻ chủ mưu và thực hành tích cực, Bùi Diệu L là kẻ giúp sức. Các bị cáo đều có người thân đã có đóng góp với nhà nước, như bố bị cáo L đã có thời gian phục vụ quân ngũ và được khen thưởng, mẹ bị cáo B cũng có đóng góp cho ngành giáo dục và được khen thưởng. Vì vậy khi quyết định hình phạt xem xét xử phạt B ở mức đầu khung hình phạt là có căn cứ. Đối với Bùi Diệu L phạm tội có mức độ, trong vụ án là kẻ giúp sức do vậy xem xét ngoài áp dụng điểm s Điều 51 BLHS cho hai bị cáo thì áp dụng thêm cho L điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS và khi quyết định hình phạt cho L được hưởng Điều 54 BLHS xử phạt L mức hình phạt dưới khung hình phạt là phù hợp pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
[4]. Vật chứng: Đã được xử lý ở giai đoạn điều tra nên không đặt vấn đề giải quyết.
[5]. Dân sự: Không.
Các bị cáo phải chịu án phí HSST sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Hải B, Bùi Diệu L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm a Khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Đoàn Hải B 7 ( bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo đầu thú tạm giữ, tạm giam 15/05/2023.
Áp dụng: Điểm a Khoản 3 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bùi Diệu Linh 5 ( năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn từ tính từ ngày ngày bị cáo đầu thú tạm giữ, tạm giam 15/05/2023.
Dân sự: Không. Về hình phạt bổ sung: Không.
Vật chứng: Không.
2- Áp dụng Các Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người bị hại, nguyên đơn dân sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
|
Bản án số 333/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN, THÀNH PHỐ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 333/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN, THÀNH PHỐ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bình - Linh
