Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 333/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29 - 8 - 2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh và ông Mai Huy Viện.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 279/2024/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 356/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Minh H1, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; hiện đang cư trú tại: Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai chị Nguyễn Thị H trình bày nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Minh H1 kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dan xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 09/07/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau tại nhà bố mẹ chồng tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, anh H1 không quan tâm đến gia đình, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Đến tháng 7/2023, anh H1 đi xuất khẩu lao động tại Đức, từ khi anh H1 sang Đức đến nay vợ chồng ít liên lạc với nhau. Hiện nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Minh H1

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Minh H1 có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Tú Q, sinh ngày 27/10/2021. Hiện nay con chung đang ở cùng với chị. Khi vợ chồng ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Nguyễn Minh H1: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh H1 thông qua người thân là bà Nguyễn Thị B (mẹ của anh H1) và niêm yết theo quy định, nhưng anh H1 vắng mặt, do đó không có ý kiến. Chị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh H1 đang cư trú tại Đức. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu bà Nguyễn Thị B cung cấp địa chỉ, tin tức của anh H1 cũng như yêu cầu bà B thông báo cho anh H1 biết để anh H1 có ý kiến về việc giải quyết việc ly hôn gửi Tòa án. Ngày 10/7/2024, Tòa án nhận được đơn trình bày của bà B có nội dung như sau: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Minh H1. Hiện nay anh H1 đang sinh sống và làm việc tại Đức, anh H1 thường xuyên liên lạc về với bà thông qua điện thoại, nhưng không cung cấp được địa chỉ tại Đức cho bà nên bà không thể cung cấp địa chỉ của anh H1 tại Đức cho Tòa án. Bà đã thông báo cho anh H1 biết việc chị H làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án, anh H1 cũng đồng ý. Đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh H1 về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đường sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Minh H1; giao con chung Nguyễn Ngọc Tú Q, sinh ngày 27/10/2021 cho chị Nguyễn Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Minh H1 có hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, hiện đang làm việc và sinh sống tại Đức nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.

[1.2] Thủ tục hòa giải: Bị đơn anh Nguyễn Minh H1 hiện vắng mặt tại nơi cư trú, đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H1 vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

[1.3] Sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Minh H1 hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H1 thông qua người thân là bà Nguyễn Thị B (mẹ của anh H1) gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Đồng thời yêu cầu anh H1 trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, Tòa án không nhận được ý kiến phản hồi của anh H1. Tòa án đã tiến hành xác minh qua bà B và được cung cấp thông tin như sau: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Minh H1. Hiện nay anh H1 đang sinh sống và làm việc tại Đức, anh H1 thường xuyên liên lạc về với bà thông qua điện thoại, nhưng không cung cấp được địa chỉ tại Đức cho bà nên bà không thể cung cấp địa chỉ của anh H1 tại Đức cho Tòa án. Bà đã thông báo cho anh H1 biết việc chị H làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án, anh H1 cũng đồng ý. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 12/8/2024, lần thứ hai vào ngày 29/8/2024 nhưng cả hai lần anh H1 đều vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc anh H1 vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/22/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ. Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

[2] Nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nguyễn Minh H1 vào ngày 09/7/2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, anh H1 không quan tâm đến gia đình, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Đến tháng 7/2023, anh H1 đi xuất khẩu lao động tại Đức, từ khi anh H1 sang Đức đến nay vợ chồng ít liên lạc với nhau. Chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh H1. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Minh H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Nguyễn Thị H yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[2.2] Con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Minh H1 có một con chung là Nguyễn Ngọc Tú Q, sinh ngày 27/10/2021. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi con chung cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay anh H1 đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý con chung. Do đó, cần giao con chung Nguyễn Ngọc T Quỳnh cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung, anh H1 chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con cho các đương sự khi có yêu cầu.

[2.3] Tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Minh H1 cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[3] Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273, các Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị H.

1. Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Minh H1.

2. Con chung:

2.1. Giao con chung Nguyễn Ngọc Tú Q, sinh ngày 27/10/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, quản lý cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Minh H1 có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

2.2. Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H chưa yêu cầu. Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của các con chưa thành niên, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

3. Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0012955 ngày 21/6/2024.

4. Quyền kháng cáo:

4.1. Chị Nguyễn Thị H vắng mặt, có quyền kháng cáo thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

4.2. Anh Nguyễn Minh H1 vắng mặt, có quyền kháng cáo thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 333/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 333/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình H H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger