|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 333/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 05 - 2024 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Tám
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 04 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 121/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị T, sinh năm 1979; tổ A ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Quách Thanh P - Văn phòng phòng L thuộc Đoàn Luật sư A; địa chỉ: khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1979; địa chỉ: số D ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Lương Thị T trình bày:
Bà Lương Thị T với ông Nguyễn Thanh T1 do mai mối và đi đến hôn nhân vào năm 2002, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định vào năm 2009. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, ông T1 có người phụ nữ khác, ông T1 luôn có hành vi bạo lực gia đình, dùng lời lẽ xúc phạm lẫn nhau nên giữa bà T với ông T1 không sống chung từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay, các bên không còn liên lạc với nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, bà T yêu cầu ly hôn với ông T1.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Mộng N, sinh ngày 08/04/2004 (đã trưởng thành).
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập bị đơn đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lí do.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Quách Thanh P vắng mặt có gửi văn bản quan điểm bảo vệ cho nguyên đơn: Hôn nhân giữa bà T và ông T1 là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Tuy nhiên, quá trình sống chung ông, bà có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2023 cho đến nay, không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà T được ly hôn với ông T1; về con chung: Nguyễn Thị Mộng N, sinh ngày 08/04/2004 (đã trưởng thành); về tài sản chung và nợ chung: bà T không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.
- Đối với nguyên đơn: bà Lương Thị T từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Đối với bị đơn: ông Nguyễn Thanh T1 từ khi thụ lý vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là phù hợp Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lương Thị T đối với ông Nguyễn Thanh T1; về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Mộng N, sinh ngày 08/04/2004 (đã trưởng thành); về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Lương Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T1, nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Thanh T1 với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 không đến tham gia phiên Tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của ông T1 không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T1.
Bà Lương Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của nguyên đơn không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà T với ông T1 là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia
đình thì đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng về quan điểm, ông T1 có hành vi bạo lực gia đình, không tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã nên giữa bà T và ông T1 không còn sống chung từ tháng 10/2023 cho đến nay.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T1 mâu thuẫn là có thật, hai bên đã không còn liên hệ với nhau trong thời gian dài và đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt.
Vì vậy, bà T có yêu cầu ly hôn ông T1 là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX chấp nhận.
Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Mộng N, sinh ngày 08/04/2004 (trưởng thành) nên Hội đồng không đặt ra xem xét giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
[3] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của bà Lương Thị T được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lương Thị T, bà Lương Thị T được ly hôn ông Nguyễn Thanh T1.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Mộng N, sinh ngày 08/04/2004 (trưởng thành).
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: bà Lương Thị T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai
thu số 0006668, ngày 27/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Diệu |
Bản án số 333/2024/HNGĐ-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 333/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
