|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 333/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-12-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Luyến
Ông Đỗ Trọng Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 272/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 167/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị L; nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Vũ Văn H; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Đài Loan; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là chị Lê Thị L trình bày:
Chị Lê Thị L và anh Vũ Văn Hòa kết H1 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/12/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2021 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong việc làm ăn kinh tế dẫn đến thường xuyên cãi vã. Đến năm 2022, anh H sang Đài Loan sinh sống và làm việc, chị L và các con vẫn ở Hải Phòng. Do khoảng cách địa lý xa xôi, tình cảm vợ chồng dần phai nhạt, đến nay không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hai bên gia đình, bạn bè đã nhiều lần hòa giải mâu thuẫn nhưng không đạt kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Thị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn H để sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Anh chị có hai con chung là Vũ Anh Q, sinh ngày 09/12/2013 và Vũ Gia H2, sinh ngày 27/3/2016, hiện đang ở với ông bà nội. Ly hôn, chị L đề nghị giao hai con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị L không biết địa chỉ cụ thể của anh H tại Đài Loan nên không cung cấp được cho Tòa án. Chị được biết anh H vẫn thường xuyên liên lạc về nhà với bố mẹ đẻ của anh H là ông Vũ Văn H3 và bà Nguyễn Thị T.
Đối với bị đơn là anh Vũ Văn H:
Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Vũ Văn H3 và bà Nguyễn Thị T – là bố mẹ đẻ của anh Vũ Văn H. Tòa án đã thông báo cho ông Vũ Văn H3 và bà Nguyễn Thị T cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Vũ Văn H ở Đài Loan và yêu cầu ông bà cho biết kết quả về việc đã thông báo cho anh Vũ Văn H để gửi lời khai đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị L cho Tòa án. Ông Vũ Văn H3 và bà Nguyễn Thị T trình bày anh Vũ Văn H vẫn liên lạc qua điện thoại với gia đình nhưng anh H không cung cấp địa chỉ cụ thể anh Vũ Văn H ở đâu. Ông bà đã thông báo cho anh Vũ Văn H về yêu cầu của Tòa án tuy nhiên anh H không thực hiện việc cung cấp địa chỉ và gửi lời khai về cho Tòa án với lý do bận công việc. Anh H trao đổi qua điện thoại với ông bà như sau: Anh Hòa đồng Ý ly hôn với chị L do xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không tồn tại, anh chị đã ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Về con chung, anh chị có hai con chung là Vũ Anh Q, sinh ngày 09/12/2013 và Vũ Gia H2, sinh ngày 27/3/2016. Anh Hòa đồng Ý giao hai con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung.
Quan điểm của ông Vũ Văn H3 và bà Nguyễn Thị T như sau: Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/12/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận và có 02 con chung. Quá trình chung sống đến năm 2021 anh chị nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong việc làm ăn kinh tế dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi vã. Đến năm 2022, anh H sang Đài Loan sinh sống và làm việc. Gia đình hai bên đã khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Do vậy, ông bà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn anh H theo quy định của pháp luật. Về con chung: Hai cháu hiện đang ở với ông bà tuy nhiên đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị L và anh H, giao hai con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Anh H, chị L không yêu cầu giải quyết, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Lê Thị L được ly hôn anh Vũ Văn H. Về con chung: Giao hai con chung là Vũ Anh Q, sinh ngày 09/12/2013 và Vũ Gia H2, sinh ngày 27/3/2016 cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung, chị Lê Thị L không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và con chung với anh Vũ Văn H. Bị đơn là anh Vũ Văn H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố Hải Phòng, hiện đang sinh sống ở Đài Loan, nguyên đơn là chị Lê Thị L hiện nay có nơi cư trú tại thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Lê Thị L có đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Vũ Văn H vắng mặt tại địa phương, sinh sống ở nước ngoài nhưng không cung cấp được địa chỉ cho Tòa án và nguyên đơn biết. Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng, anh H đã biết các văn bản tố tụng của Tòa án được gửi cho anh H thông qua ông Vũ Văn H3 và bà Nguyễn Thị T nhưng anh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị L kết hôn với anh Vũ Văn Hòa kết H1 với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/12/2010. Theo Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị L và bố mẹ đẻ của anh H, xét thấy quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn. Qua lời trình bày của bố mẹ đẻ anh H thì anh H có quan điểm đồng ý ly hôn với chị L do vợ chồng không còn tình cảm. Như vậy nhận thấy mâu thuẫn giữa anh H và chị L đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không tồn tại, anh chị đã ly thân trong một thời gian dài nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị L đối với anh Vũ Văn H.
- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Vũ Anh Q, sinh ngày 09/12/2013 và Vũ Gia H2, sinh ngày 27/3/2016, hiện đang ở với bố mẹ đẻ của anh H. Ly hôn, chị L đề nghị giao hai con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy anh H hiện đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Con chung Vũ Anh Q và cháu Vũ Gia H2 cùng có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, việc chị L yêu cầu giao hai con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L đã được Tòa án giải thích về việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con tuy nhiên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy chị L có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con chung và việc chị L không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, do vậy Tòa án không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu chị L và anh H có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung thì anh chị có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
- Về tài sản chung: Chị Lê Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị L và anh Vũ Văn H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn anh Vũ Văn H.
- Về con chung: Giao hai con chung là Vũ Anh Q, sinh ngày 09/12/2013 và Vũ Gia H2, sinh ngày 27/3/2016 cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Lê Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: Chị Lê Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000722 ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Lê Thị L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Lê Thị L (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Vũ Văn H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tuyến |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đỗ Trọng Tuấn - Nguyễn Thị Luyến |
Nguyễn Xuân Tuyến |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tuyến |
Bản án số 333/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 333/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
