|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 333/2024/DS-ST Ngày: 30-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
Bà Đỗ Mỹ Lil
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 899/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng cầm cố đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Minh L, sinh năm 1970 và bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1978. Cùng địa chỉ cư trú: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. (Người đại diện theo uỷ quyền của ông L: Bà Đặng Thị Đ) (Xin vắng).
Bị đơn: Bà Võ Thị Lệ . Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Xin vắng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tô Văn M. Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 11 năm 2023, nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 19/02/2018al, ông L, bà Đ có nhận cố của ông Tô Hoài T (Đã chết) và bà Võ Thị L1 1,5 công đất tầm 03 mét với giá 07 chỉ vàng 24k. Thoả thuận khi nào ông L, bà Đ cần lấy lại vàng thì phía bà L1 chuộc lại đất, sau khi cố đất do phía bà L1 thuê canh tác, mỗi năm phải trả cho ông L, bà Đ 35 giạ lúa. Sau khi cố phía bà L1 không trả lúa thuê đất như thoả thuận, cũng không thanh toán vàng cố đất. Ông T đã chết. Phần đất hiện tại do phía bà L1 và ông Tô Văn M là con bà L1 và ông T canh tác. Từ đó, ông L, bà Đ yêu cầu tuyên bố hợp đồng cố đất ngày 19/02/2008al giữa ông L, bà Đ với ông T, bà L1 là vô hiệu, yêu cầu bà Võ Thị L1 và ông Tô Văn M trả cho ông L, bà Đ 07 chỉ vàng 24k.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, nguyên đơn rút yêu cầu kơi kiện đối với ông Tô Văn M, yêu cầu bà Võ Thị L1 trả cho ông L, bà Đ 07 chỉ vàng 24k.
Tại biên bản làm việc ngày 30 tháng 8 năm 2024, bà Võ Thị L1 trình bày: Bà và ông Tô Hoài T là vợ chồng, ông T đã chết. Bà và ông T có vay của ông L, bà Đ 07 chỉ vàng 24k, vay thời gian nào không nhớ, khi vay có thoả thuận trả lãi bằng lúa nhưng mỗi tháng trả bao nhiêu thì bà L1 không nhớ. Sau khi vay chỉ trả lãi được thời gian đầu, thời gian sau do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên không trả lúa cho ông L, bà Đ. Bà L1, ông T không có cố đất cho ông L, bà Đ. Khi ông L, bà Đ yêu cầu bà L1 trả vàng, bà L1 thoả thuận trả cho ông L, bà Đ mỗi tháng 1.000.000 đồng nhưng ông L, bà Đ không đồng ý. Bà L1 và ông T có tất cả 06 người con, việc nợ vàng ông L, bà Đ là nợ của vợ chồng bà L1, ông T. Bà không đồng ý cung cấp thông tin các con của bà L1 và ông T. Ông T chết thì trách nhiệm thanh toán là của bà L1, bà L1 đồng ý có trách nhiệm thanh toán cho ông L 07 chỉ vàng 24k. Tuy nhiên, hiện nay điều kiện kinh tế gia đình bà L1 khó khăn nên chưa có khả năng thanh toán. Bà L1 yêu cầu Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt bà L1 và xin miễn án phí do bà L1 là người cao tuổi.
Đối với ông Tô Văn M, mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập đến Toà án để giải quyết vụ án theo quy định nhưng ông M vẫn không có ý kiến phản hồi và đều vắng mặt.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn, bị đơn đã thực đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tô Văn M không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật, vắng mặt tại phiên toà. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố hợp đồng cố đất ngày 19/02/2008al giữa ông L, bà Đ với ông T, bà L1 là vô hiệu, buộc bà Võ Thị L1 trả cho ông Lê Minh L và bà Đặng Thị Đ 07 chỉ vàng 24k.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa ông L, bà Đ với bà L1 là tranh chấp hợp đồng cầm cố đất. Nơi cư trú của bị đơn và nơi thực hiện hợp đồng đều tại huyện T nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Theo nguyên đơn, vào ngày 19/02/2018al, ông L, bà Đ có nhận cố của ông Tô Hoài T (Đã chết) và bà Võ Thị L1 1,5 công đất tầm 03 mét với giá 07 chỉ vàng 24k. Phần đất cố do phía bà L1 canh tác. Về phía bị đơn, bà L1 cho rằng không có cố đất cho ông L, bà Đ nhưng có vay của ông L, bà Đ 07 chỉ vàng 24k và trả lãi bằng lúa. Bà L1 đồng ý còn nợ lại ông L, bà Đ 07 chỉ vàng 24k, xác định giao dịch này do bà L1 và ông T thực hiện, ông T chết thì bà L1 có trách nhiệm thanh toán, không liên quan đến các con của bà L1. Tuy nhiên, vì điều kiện kinh tế khó khăn nên bà L1 chưa thanh toán cho ông L, bà Đ.
Xét thấy, bà L1 xác định không có cố đất cho ông L, bà Đ. Nhưng quá trình giải quyết vụ án bà L1 không có yêu cầu gì đối với hợp đồng cố đất ngày 19/02/2008al do phía nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, bà L1 thừa nhận có vay của ông L, bà Đ 07 chỉ vàng 24k và thanh toán lãi bằng lúa. Như vậy, có cơ sở xác định giao dịch các bên thực hiện như nguyên đơn trình bày là có trong thực tế.
Xét thấy, giao dịch giữa các bên thực hiện là cố đất. Tuy nhiên, đất đai không phải là đối tượng của hợp đồng cầm cố, nên việc thỏa thuận cầm cố của đương sự không được pháp luật công nhận. Do đó, đồng cố đất ngày 19/02/2008al giữa ông L, bà Đ với ông T, bà L1 là vô hiệu.
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu, các bên phải trao trả cho nhau những gì đã nhận. Bà L1 thừa nhận có nhận của ông L, bà Đ 07 chỉ vàng 24k; ông T đã chết, ông L, bà Đ thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu trách nhiệm tranh toán đối với bà L1, bà L1 không yêu cầu những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông T cùng trách nhiệm thanh toán. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do vậy, bà L1 phải có trách nhiệm thanh toán cho ông L, bà Đ 07 chỉ vàng 24k.
Đối với việc cho thuê lại đất, do hợp đồng cố đất vô hiệu nên chấm dứt hợp đồng cho thuê đất 19/02/2008al giữa ông L, bà Đ với bà L1. Về trách nhiệm thanh toán đối với việc cho thuê lại đất nguyên đơn không đặt ra nên không xem xét.
Như vậy, yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.
[3] Về án phí, bà Võ Thị L1 có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán cho ông L, bà Đ nên phải chịu án phí theo quy định nhưng được miễn do là người cao tuổi. Ông L, bà Đ không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 117, 122, 131 của Bộ luật Dân sự; Điều 166, 167 Luật Đất đai;
- Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố hợp đồng cầm cố đất 19/02/2008al giữa ông L, bà Đ với ông T, bà L1 là vô hiệu. Chấm dứt hợp đồng cho thuê đất ngày 19/02/2008al giữa ông L, bà Đ với ông T, bà L1.
- Về án phí: Ông L, bà Đ không phải chịu án phí. Ông L, bà Đ có nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 1.031.000 đồng (Một triệu không trăm ba mươi mốt ngàn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004013 ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được hoàn lại. Bà Võ Thị L1 được miễn nộp án phí.
Buộc bà Võ Thị L1 phải trả cho ông Lê Minh L, bà Đặng Thị Đ 07 chỉ vàng 24k (Bảy chỉ vàng hai mươi bốn kara).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niên yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Huệ |
Bản án số 333/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng cầm cố đất
- Số bản án: 333/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cầm cố đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng cố đất
