|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 333/2024/HS-PT Ngày 12 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;
Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang;
Ông Đinh Quốc Trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Duyên, Kiểm sát viên.
Ngày 12/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2024/TLPT-HS ngày 26/01/2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 98/2023/HSST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện M, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không, H phổ thông: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1956 và con bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1957; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo thứ ba; Vợ Trần Thị L2 (chưa đăng ký kết hôn), có hai con sinh năm 2020 và 2024; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/02/2015, bị Tòa án nhân dân quận N, Thành phố Hà Nội xử phạt 48 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự;
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Vụ án còn có 02 người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 6/2022, do cần tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân nên bị cáo Nguyễn Văn L hỏi vay tiền của anh Nguyễn Văn H1 - sinh năm 1992 ở tại thôn N, xã C, huyện M, Thành phố Hà Nội, nhưng anh H1 không có tiền nên nói với bị cáo nếu muốn vay, H1 sẽ hỏi người khác giúp hộ nhưng phải có tài sản thế chấp. Bị cáo đồng ý và nói sẽ đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình để thế chấp. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bị cáo đã giao nộp cho UBND huyện M để xem xét làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở lâu dài chưa có kết quả trả hồ sơ, nên không có ở nhà. Vì vậy, bị cáo đã nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đem thế chấp vay tiền. Thông qua mạng xã hội, bị cáo biết chủ tài khoản Facebook “Làm sổ đỏ” (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả), có số điện thoại (0585.701.xxx), bị cáo dùng số điện thoại (0983.698.xxx) của bị cáo gọi đến số điện thoại làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi liên hệ trao đổi với một người nam giới không biết tên, địa chỉ cụ thể, bị cáo nói muốn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, người này đồng ý và hẹn trong thời gian khoảng 07 đến 10 ngày thì nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả với chi phí là 3.000.000đ. Bị cáo đồng ý rồi gửi thông tin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị cáo đã chụp trước đó đã được cấp cho Nguyễn Văn L, sinh năm 1990, ở thôn V, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội số: CR969388, vào sổ cấp GCN: CS-ML11476, thửa đất số 418-5, tờ bản đồ số 5, diện tích 251,0m², đất ở nông thôn 100,0m²; đất trồng cây lâu năm 151,0m², địa chỉ thửa đất tại thôn N, xã C, huyện M, Thành phố Hà Nội. Sau đó, bị cáo hẹn khi nào nhận giấy chứng nhận thì thanh toán tiền. Đến ngày 05/7/2022, bị cáo nhận được từ một nhân viên giao hàng 01 phong bì bên trong là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giống như thông tin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà trước đó bị cáo đã chụp và gửi thông tin để được làm giấy chứng nhận giả. Sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, bị cáo đã trả 3.000.000đ, cho người giao hàng rồi cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất giả đến đưa cho anh H1 để thế chấp vay tiền, khi xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh H1 không biết đây là giấy chứng nhận làm giả nên đã đem đến gặp ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1969, ở thôn B, xã L, huyện M, Thành phố Hà Nội là chỗ quen biết nói với ông K là bị cáo muốn vay tiền với lãi suất 02%/ tháng rồi đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cùng căn cước công dân của bị cáo cho ông K, ông K nói nếu vay tiền thì bị cáo phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông K, trong vòng 06 tháng, bị cáo có nhu cầu lấy lại thì ông K sẽ chuyển nhượng cho bị cáo và tính lãi theo thỏa thuận của hai bên, nên H1 đã nói cho bị cáo biết nội dung, nếu muốn vay tiền phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông K cho vay số tiền 1.000.000.000đ với lãi suất là 04%/ tháng.
Bị cáo đồng ý, hai bên hẹn nhau đi làm thủ tục công chứng. Bị cáo bảo H1 đặt trước số tiền là: 250.000.000đ và hẹn chiều ngày 06/7/2022 sẽ đi làm thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Anh H1 nói lại với ông K, ông K đồng ý rồi đưa cho anh H1 số tiền 250.000.000đ nhờ H1 làm hợp đồng đặt cọc với bị cáo. Sau đó, anh H1 cầm tiền về rồi cùng bị cáo đến nhà anh Nguyễn Văn A - sinh năm 1977 ở thôn N, xã C, huyện M, Thành phố Hà Nội (là em vợ ông K). Tại đây, anh H1 giao cho bị cáo số tiền là: 160.000.000₫ và chuyển tiền vào tài khoản số (0711000283926) ngân hàng V1 của bị cáo số tiền là: 90.000.000đ. Tổng số tiền anh H1 đưa cho bị cáo là: 250.000.000đ để làm hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K và bị cáo với sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn A, ông K không có mặt, giấy đặt cọc này giao cho anh Nguyễn Văn A giữ hộ và chuyển cho ông K ký hai bên hẹn ngày 06/7/2022, khi xin được giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, bị cáo và anh H1, ông K sẽ đến Phòng C để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đến khoảng 14 giờ ngày 06/7/2022, anh H1 cùng bị cáo đến Phòng C, một lúc sau thì anh Nguyễn Văn A và ông K cũng đến. Bị cáo L cho ông K kiểm tra lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và các giấy tờ tùy thân của bị cáo rồi cùng nhau đi vào Phòng công chứng để làm thủ tục. Quá trình tiếp nhận và giải quyết, Phòng C, Thành phố Hà Nội nghi ngờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên có dấu hiệu giả mạo nên đã báo tin đến Công an huyện M để làm rõ. Ngay sau khi nhận được tin báo, Công an huyện M đã có mặt lập biên bản sự việc và thu giữ của
bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bìa số CR969388, vào sổ cấp GCN: CS-ML 11476 do Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 08/7/2019 và mời bị cáo cùng anh H1, anh Văn A và ông K về trụ sở để làm việc.
Ngày 06/7/2022, Phòng C Thành phố Hà Nội, làm đơn trình báo Công an huyện M đề nghị xác minh làm rõ tính hợp pháp của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị cáo Nguyễn Văn L.
Tại cơ quan CSĐT - Công an huyện M, bị cáo Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- - Thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn L: 01 giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: CR969388, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS-ML 11476 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 08/07/2019, ghi thông tin thửa đất số 418-5, tờ bản đồ số 5, diện tích 251,0m², mục đích sử dụng đất: Đất ở nông thôn 100m², đất trồng cây lâu năm 151,0m², tại thôn N, xã C, huyện M, Thành phố Hà Nội, chủ sử dụng là Nguyễn Văn L - sinh năm 1990; Nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội và số tiền 250.000.000đ.
- - Thu giữ của ông Nguyễn Văn K 01 tờ hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 05/7/2022, bên bán Nguyễn Văn L, bên mua Nguyễn Văn K.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn L đã tự nguyện trả lại cho ông Nguyễn Văn K số tiền là 250.000.000đ. Sau khi nhận tiền ông K không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Số vật chứng còn lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, Thành phố Hà Nội để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định số 4930/KL-KTHS ngày 15/7/2022 của Phòng K1 - Công an Thành phố H, kết luận: "Chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” cần giám định (ký hiệu A1) là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả”.
Đối với: chủ tài khoản Facebook “Làm sổ đỏ” (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) số điện thoại 0585.701.xxx của người nam giới mà bị cáo Nguyễn Văn L liên hệ để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Quá trình điều tra xác minh không xác định được được họ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Văn H1 là người được bị cáo đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và nhờ anh H1 vay tiền hộ. Quá trình điều tra xác định: Khi đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho anh H1, bị cáo không nói cho anh H1 biết là giấy chứng nhận giả nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 143/CT-VKS ngày 25/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2023/HSST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện M, Thành phố Hà Nội quyết định:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 341; Điều 38; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/8/2023 bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn thuộc diện cận nghèo; bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi mẹ già và hai con nhỏ sinh năm 2020 và 2024; nhận thức pháp luật hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- + Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
- + Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2023/HSST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện M, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo bày tỏ sự ăn năn hối cải, không tham gia tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về trình tự, thủ tục và thẩm quyền đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng cuối tháng 6/2022, tại thôn N, xã C, huyện M, Thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn L đã có hành vi thuê người làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình L để đem thế chấp vay tiền, thông qua mạng xã hội Facebook “Làm sổ đỏ”, bị cáo sử dụng số điện thoại 0983.698.xxx rồi liên hệ với số điện thoại 0585.701.xxx của một người nam giới không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể thuê làm giả với giá 3.000.000đ, bị cáo chụp và gửi thông tin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình mà trước đó đã được UBND huyện M cấp. Khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, bị cáo hỏi vay ông Nguyễn Văn K 1.000.000.000đ. Ông K đồng ý cho vay nhưng phải làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 06/7/2022, bị cáo và ông K đến Văn phòng C1, huyện M, Thành phố Hà Nội để làm hợp đồng chuyển nhượng đất thì bị phát hiện là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, nên Văn phòng C1 đã làm đơn trình báo Công an huyện M điều tra làm rõ.
Với hành vi trên, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 15 tháng tù là có phần nghiêm khắc.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả và đã nộp án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai nộp tiền số 0008322 ngày 02/4/2024 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày nhận thức pháp luật hạn chế và xuất trình tài liệu thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo là lao động chính đang nuôi mẹ già và nuôi hai con nhỏ. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy giảm một phần hình phạt cho bị cáo vẫn đảm bảo giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện sự nhân đạo khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
I. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L.
II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 98/2023/HSST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện M, Thành phố Hà Nội về hình phạt.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 341; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:
Nguyễn Văn L 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
III. Các quyết định của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Phong |
Bản án số 333/2024/HS-PT ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 333/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án PT 333 - 12.4.24 Nguyễn Văn L Làm giả con dấu
