|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 333/2024/DS-PT Ngày: 06/8/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay và Thực hiện nghĩa vụ người chết để lại.” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Hải |
| Các Thẩm phán: | Bà Võ Bích Hải |
| Bà Phan Thị Hồng Dung |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06/8/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 127/2024/TLPT-DS ngày 06/06/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại ”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 192/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 251/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Quách Văn T, sinh năm 1984.
Địa chỉ: C, tổ C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của ông Quách Văn T (Văn bản ủy quyền ngày 24.8.2022): ông Ngô Bảo H, sinh năm 1972; địa chỉ: Số A, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Bị đơn:
- + Bà Nguyễn Thuần N, sinh năm 1984;
- + Cháu Nguyễn Tân Rạng Đ, sinh năm 2012;
- + Cháu Nguyễn Đắc L, sinh năm 2014;
Bà Nguyễn Thuần N là người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Tân Rạng Đ và Nguyễn Đắc L. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số A, tổ D, khu V, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ
Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thuần N – văn bản ủy quyền ngày 14.10.2023: Bà Phạm Thị Kim N1, sinh năm 2001 (có mặt); ông Phạm Quang N2, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: B, đường A, khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của Bà Nguyễn Thuần N: Luật sư Nguyễn Thị H1, Công ty L1 – thuộc Đoàn Luật sư thành phố C; Địa chỉ: B đường A, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. (có đơn xin vắng mặt)
+ Bà Hứa Thị C, sinh năm 1951. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng của bà C (Văn bản ủy quyền ngày 05/8/2023): ông Phạm Quang N2, sinh năm 1994 (vắng mặt); bà Trần Huỳnh Bảo N3, sinh năm 1997 (vắng mặt); Cùng địa chỉ: B đường A, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của Bà Nguyễn Thuần N: Luật sư Nguyễn Thị H1, Công ty L1 – thuộc Đoàn Luật sư thành phố C; Địa chỉ: B đường A, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. (có đơn xin vắng mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thuần N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Quách Văn T trình bày: Vào ngày 24/6/2021, ông T có cho ông Nguyễn Hoàng K vay số tiền 1.100.000.000 đồng, thời hạn vay 10 ngày, không thỏa thuận lãi suất. Hết hạn vay ông K không trả nợ như đã cam kết.
Đến cuối tháng 11/2021 ông K tự tử không để lại di chúc, khoản nợ này chưa trả cho ông T. Việc vay tiền có làm biên nhận kiêm giấy vay tiền ngày 24/6/2021 số tiền 1.100.000.000 đồng (biên nhận này là biên nhận cuối của nhiều lần vay). Ngoài ra, ông K không còn nợ ông T khoảng tiền nào khác.
Qua tìm hiểu thì hàng thừa kế thứ nhất của ông K bao gồm: Nguyễn Thuần N (vợ ông K), Nguyễn Tân Rạng Đ (con ông K), Nguyễn Đắc L (con ông K), Hứa Thị C (mẹ ruột ông K), cha ông K đã mất.
Nay Tửng khởi kiện yêu cầu những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng (hàng thừa kế thứ nhất) của ông Nguyễn Hoàng K gồm có bà Nguyễn Thuần N (vợ ông K), Nguyễn Tân Rạng Đ (con ông K), Nguyễn Đắc L (con ông K), Hứa Thị C (mẹ của ông K) trả số tiền 1.100.000.000 đồng mức lãi suất 12%/năm tính từ ngày 24/6/2021 cho đến ngày xét xử sơ thẩm và lãi ở giai đoạn thi hành án. Ngoài bà N là vợ của ông K và 02 con Nguyễn Tân Rạng Đ, Nguyễn Đắc L thì ông K không có con nuôi hay con riêng. Mẹ ruột ông K là bà Hứa Thị C, cha của ông K đã mất trước ông K.
Phía bị đơn có đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà Nguyễn Thuần N là vợ của ông Nguyễn Hoàng K (mất ngày 19/11/2021 ), ông K và bà N có 02 con chung Nguyễn Tân Rạng Đ, Nguyễn Đắc L. Khi còn sống bà N không nghe ông K nói về khoản nợ đối với ông Quách Văn T và bà N cũng không biết khoản nợ này. Biên nhận nợ mà nguyên đơn khởi kiện không phải chữ viết và chữ ký của ông K nhưng không yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký của ông K, nghĩa vụ chứng minh là của nguyên đơn. Ông K chết không để lại tài sản, không để lại di chúc bà N và 02 con không hưởng bất kỳ tài sản nào của ông K. Do đó với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bà N và 02 con chung trả nợ thì bà N không đồng ý. Ngoài bà N là vợ của ông K và 02 con Nguyễn Tân Rạng Đ, Nguyễn Đắc L thì ông K không có con nuôi hay con riêng. Mẹ ruột ông K là bà Hứa Thị C, cha của ông K đã mất trước ông K.
- Đại diện ủy quyền của bà Hứa Thị C trình bày ý kiến: Ông Nguyễn Hoàng K là con ruột của bà Hứa Thị C. Ông K có vợ là bà Nguyễn Thuần N và có 02 con. Chồng bà C đồng thời là cha của ông K đã mất. Hàng thừa kế thứ nhất của ông K trong đó có bà C. Những khoản nợ của ông K bà C hoàn toàn không biết do không sống chung cùng với ông K. Từ khi ông K mất bà C không có nhận di sản của ông K. Do bà C không hưởng di sản của bà C nên không có nghĩa vụ trả những khoảng nợ của ông K. Đối với biên nhận tiền do nguyên đơn cung cấp bà C cho rằng chữ ký trên đó không phải của ông K. Bà C không yêu cầu giám định chữ ký và chữ viết của ông K, nghĩa vụ chứng minh là của nguyên đơn.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 192/2023/DS-ST ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Văn T về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thực nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại.
Buộc bà Nguyễn Thuần N, bà Hứa Thị C cùng có nghĩa vụ phải trả cho ông Quách Văn T số tiền 1.367.170.000 đồng (Một tỷ ba trăm sáu mươi bảy triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng) trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Hoàng K để lại.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm, và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên xử bị đơn bà Nguyễn Thuần N đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đồng ý với bản án sơ thẩm đã tuyên về nợ gốc, đồng thời nguyên đơn tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ nên không yêu cầu lãi suất, nguyên đơn chỉ yêu cầu trả vốn gốc. Bị đơn có đại diện ủy quyền không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn không biết và không thừa nhận biên nhận của ông K đã ghi nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo nội dung biên nhận kiêm giấy vay tiền ngày 24/6/2021 thể hiện, ông K vay và đã nhận của ông T số tiền 1.100.000.000 đồng, thời hạn vay 10 ngày kể từ ngày 24/6 đến ngày 04/7/2021, lãi suất theo thỏa thuận, cuối biên nhận có chữ ký, ghi họ tên Nguyễn Hoàng K. Quá trình giải quyết vụ án, bà N không thừa nhận chữ ký, chữ viết trong biên nhận là của ông K nhưng không yêu cầu giám định. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là phù hợp.
Tuy nhiên, trong vụ án này, nghĩa vụ trả nợ là nghĩa vụ liên đới, nên bà N và cháu Đ, cháu L cùng chịu án phí đối với số tiền phải thanh toán cho ông T, nhưng cháu Đ (sinh năm 2012), cháu L (sinh năm 2014) thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án vì là trẻ em. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N phải nộp án phí 53.015.000 đồng, không phân chia số tiền án phí để miễn cho cháu Đ, cháu L là chưa phù hợp. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm đã miễn án phí cho bà C vì là người cao tuổi nhưng không khấu trừ số tiền án phí mà buộc bà N phải nộp tổng số tiền 53.015.000 đồng là chưa chính xác, cần sửa phần án phí mới đảm bảo quyền lợi của bà N.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chỉ yêu cầu trả số tiền gốc 1.100.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần Bản án số 192/2023/DS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà N, buộc bị đơn bà N phải nộp 13.253.750 đồng án phí, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 1.100.000.000 đồng trong phạm vi di sản do ông K để lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân quận Cái Răng thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền, việc ủy quyền của các đương sự là đúng quy định.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Căn cứ theo biên nhận kiêm giấy vay tiền ngày 24.6.2021 có chữ ký, chữ viết tên ông Nguyễn Hoàng K thể hiện nội dung ông K có mượn tiền của ông T 1.100.000.000 đồng trong thời hạn 10 ngày, lãi suất thỏa thuận (không ghi cụ thể mức lãi suất).
Xét về hình thức là biên nhận được đánh máy ghi đầy đủ thông tin của người vay tiền và người cho vay. Ngày nhận tiền và ký tiên người vay. Xét về hình thức thì thỏa mãn một giấy mượn tiền. Toàn bộ nội dung được đánh mày.
Xét về nội dung: Thể hiện ông Nguyễn Hoàng K có vay của ông T số tiền 1.100.000.000 đồng ngày vay là ngày 24/6/2021 hạn trả là ngày 04/7/2021. Số tiền vay ghi bằng số và bằng chữ. Về nội dung đảm bảo dầy đủ nội dung của một giấy vay tiền.
Tuy nhiên, ông K đã tự tử chết ngày 19/11/2021 nên phía bà N và bà C không đồng ý trả số nợ trên. Hai bà cho rằng không biết và không nghe nói ông K có nợ số tiền trên. Phía các bị đơn cho rằng không phải chữ ký của ông K và không yêu cầu giám định chữ ký.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo quy định tại Khoản 2, Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì nghĩa vụ chứng minh là thuộc về các bị đơn. Các bị đơn cho rằng không phải chữ ký tên của ông K thì các bị đơn phải có nghĩa vụ chứng minh. Các bị đơn phải yêu cầu cơ quan có chức năng thẩm định chữ ký và chữ viết của ông K trên tờ biên nhận so với các chữ ký và chữ viết trên các tài liệu khác có chữ ký của ông K. Đằng này, các bị đơn không yêu cầu, ông K tự tử chết không để lại di chúc nên hàng thừa kế thứ nhất của ông K phải có trách nhiệm trả cho ông K về số nợ trên. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét về lãi suất: Tòa án cấp sơ thẩm xác định lãi suất 10%/1 năm là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút lại yêu cầu tính lãi suất đối với bị đơn là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, phải sửa một phần bản án dân sự về lãi suất. Việc sửa án này không phải là lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm mà do đương sự tự nguyện rút một phần yêu cầu nên là lỗi khách quan.
[3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thuần N: Bà N cho rằng ông K không vay tiền của ông T nhưng bà không yêu cầu giám định chữ ký trong tờ biên nhận trên, không cung cấp chữ ký mẫu trong khi ông K lúc còn sống công tác tại ngân hàng có nhiều chữ ký mẫu để so sánh. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bà không được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thuần N phải chịu theo quy định, Bà Hứa Thị C thuộc trường hợp người cao tuổi (trên 60 tuổi) nên được miễn toàn bộ án phí. Tuy nhiên, do nguyên đơn rút một phần yêu cầu nên phải sửa một phần án phí.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà N không phải chịu.
[6] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35; Điều 39; Điều 91, Điều 92, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 136; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470; Điều 614; Điều 615; Điều 651 Bộ luật dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thuần N. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Văn T về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thực nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại.
Buộc bà Nguyễn Thuần N, bà Hứa Thị C cùng có nghĩa vụ phải trả cho ông Quách Văn T số tiền 1.100.000.000 (Một tỷ một trăm triệu đồng chẳn) trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Hoàng K để lại.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
-
* Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thuần N nộp số tiền 13.250.750 đồng (mười ba triệu hai trăm năm mươi nghìn bảy trăm năm mươi đồng)
Bà Hứa Thị C, cháu Nguyễn Tân Rạng Đ, cháu Nguyễn Đắc L được miễn toàn bộ án phí
- Ông Quách Văn T được nhận lại số tiền 24.480.000 đồng (Hai mươi bốn triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003289 ngày 28.6.2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
* Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà N không phải chịu. Bà N được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003200 ngày 17/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 333/2024/DS-PT ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay và thực hiện nghĩa vụ người chết để lại.
- Số bản án: 333/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay và Thực hiện nghĩa vụ người chết để lại.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quách Văn T - Nguyễn Thuần N, Nguyễn Tân Rạng Đ, Nguyễn Đắc L, Hứa Thị C - Tranh chấp HĐ vay tài sản và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
