Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 333/2025/DS-PT

Ngày 19-6-2025

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Bà Trần Thị Thắm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Ông Lê Trung Kiên- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 109/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 182/2024/DS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 282/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1962; địa chỉ: số D L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Đào Văn H1, là Luật sư Công ty L2 – Chi nhánh B1, có mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1964; địa chỉ: số B, tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn:

  1. Ông Thái Thanh H2, sinh năm 1979;
  2. Ông Bùi Tấn Đ, sinh năm 1997;

2

Cùng địa chỉ liên hệ: tổ A, khu phố C, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 08/11/2024), ông H2 có mặt, ông Đ vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Lê Thành D, là Luật sư Văn phòng L3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị Thu H3, sinh năm 1953; địa chỉ: tổ E, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  2. Ông Trần Quốc K, sinh năm 1954; địa chỉ: tổ D, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  3. Bà Trần Thị Thu T1, sinh năm 1968; địa chỉ: tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  4. Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị Thu T1: Ông Đào Văn T2, sinh năm 1975; địa chỉ: 137, ĐX B, tổ A, khu C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/3/2025), vắng mặt.

  5. Ông Trần Trọng T3, sinh năm 1972; địa chỉ: số D đường C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  6. Người đại diện hợp pháp của ông Trần Trọng T3: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1962; địa chỉ: số D L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 27/8/2024), có mặt.

  7. Ông Trần Duy Đ1, sinh năm 1974; địa chỉ: số D, đường C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  8. Bà Trần Thị P, sinh năm 1963, vắng mặt.
  9. Bà Trần Thị Ngọc Â, sinh năm 1982, vắng mặt.
  10. Ông Trần Tuấn T4, sinh năm 1987, vắng mặt.
  11. Bà Phạm Thị Kiều T5, sinh năm 1988, vắng mặt.
  12. Ông Trần Thiện T6, sinh năm 1991, vắng mặt.
  13. Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1994, vắng mặt.
  14. Ông Trần Quốc T7, sinh năm 1989, vắng mặt.
  15. Cùng địa chỉ: tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

  16. Bà Phan Thị T8, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên hệ: tổ C, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  17. Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1947; địa chỉ: tổ B, khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (đã chết).
  18. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Ú gồm:

      3

    1. Bà Trần Thị T9, sinh năm 1968; địa chỉ: hẻm H, tổ E, khu B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
    2. Ông Trần Trọng T10, sinh năm 1970, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    3. Bà Trần Thị T11, sinh năm 1975, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    4. Ông Trần Trung C, sinh năm 1989, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    5. Cùng địa chỉ: tổ B, khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  19. Ủy ban nhân dân phường K; địa chỉ: phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người kháng cáo: nguyên đơn bà Trần Thị Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên qua bà Trần Thị Thu T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 07/02/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 28/3/2024; các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Về quan hệ huyết thống: Cha, mẹ bà Trần Thị Thu H là cụ Võ Thị M (tức Vỏ Thị M1), sinh năm 1919, chết ngày 30/05/2009 theo giấy trích lục khai tử số 02/TLKT-BS do UBND phường K trích lục ngày 03/01/2023) và cụ Trần Văn T12, năm sinh 1917, chết năm 1989 (không có giấy chứng tử), có 06 người con gồm:

  1. Trần Văn T13 (bí danh Trần Hiệu D1), chết ngày 20/4/1972 (Liệt sĩ). Ông Trần Văn T13 có vợ tên Hoàng Thị T14 (bị chết biệt tích trong chiến tranh nên không có giấy chứng tử và cũng không biết năm chết). Ông T13 và bà T14 có 01 người con là bà Trần Thị Thu T1, sinh năm 1968.
  2. Ông Trần Văn M2, chết ngày 05/8/1974 (Liệt sĩ). Ông Trần Văn M2 có vợ tên Trần Thị T15, sinh năm 1946. Ông M2 và bà T15 có 02 người con chung là ông Trần Trọng T3, sinh năm 1972 và Trần Duy Đ1, sinh năm 1974.
  3. Bà Trần Thị Thu H3, sinh năm 1953.
  4. Ông Trần Quốc K, sinh năm 1954.
  5. Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1962 (nguyên đơn).
  6. Ông Trần Quốc T, sinh năm 1964 (bị đơn).

Ngoài những người có tên trên thì cụ Võ Thị M và cụ Trần Văn T12 không có con nuôi, không có con riêng nào khác (kể cả con ngoài giá thú). Cha của cụ Võ Thị M là ông Võ Văn C1, chết thời Pháp thuộc không có giấy chứng tử. Mẹ của cụ Võ Thị M là bà Nguyễn Thị B, chết năm 1982 (không có giấy chứng tử).

4

Cụ Trần Văn T12 đã chết năm 1989 không để lại di chúc, khi cụ T12 chết thì quyền sử dụng đất chưa được Nhà nước công nhận nên cụ T12 không để lại tài sản. Vì vậy, các anh, chị em bà H không yêu cầu chia di sản của cụ T12.

Lúc còn sống cụ Võ Thị M khai hoang được một phần đất và đã được Nhà nước công nhận các quyền sử dụng đất như sau:

+ Diện tích đất 6.412m² thuộc các thửa đất số 319, 321, 322, 355, 356, 398, 399, 400, 412, 413, 414, 423, 462 đều thuộc tờ bản đồ số 49 tại phường K theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01937QSDĐ/TU do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp ngày 18/12/2001 đứng tên bà Võ Thị M.

+ Diện tích đất 4.122m² thuộc thửa 206, tờ bản đồ số 49 tại phường K theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01938QSDĐ/TU do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp ngày 18/12/2001 đứng tên bà Võ Thị M.

Ngày 30/5/2009, cụ Võ Thị M chết không để lại di chúc. Sau khi cụ M chết các con của cụ M đều đồng ý yêu cầu chia di sản của cụ M để lại theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông T không thống nhất được với các con của cụ M về cách chia di sản nên không có tiếng nói chung.

Vì vậy, bà H làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên chia di sản thừa kế của cụ Võ Thị M để lại theo quy định của pháp luật. Toà án đã trưng cầu cơ quan chuyên môn tiến hành đo đạc thực tế các thửa đất tranh chấp nên nay nguyên đơn yêu cầu Toà án chia đều di sản thành 06 phần đối với quyền sử dụng đất gồm:

+ Diện tích đất đo đạc thực tế là 3.436,9m² thuộc các thửa đất số 319, 321, 322, 355, 356, 398, 399, 400 và diện tích 2990,8m² thuộc các thửa đất số 412, 413, 414, 462; cùng thuộc tờ bản đồ số 49 tại phường K theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01937QSDĐ/TU do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp ngày 18/12/2001 đứng tên bà Võ Thị M.

+ Diện tích đất đo đạc thực tế là 4.473,8m² (trong đó có diện tích đất mồ mã là 254,8m²) thuộc thửa đất 206, tờ bản đồ số 49 tại phường K theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 01938QSDĐ/TU do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp ngày 18/12/2001 đứng tên bà Võ Thị M.

Trên thửa đất số 206 có căn nhà cấp 4 (diện tích 150,7m²), có kết cấu mái ngói, nền gạch tàu, cột gỗ, kèo gỗ, cửa gỗ do cụ M để lại và một số cây trồng trên đất. Tuy nhiên, nguyên đơn xác định chỉ tranh chấp quyền sử dụng đất nêu trên mà không tranh chấp tài sản trên đất. Theo đơn khởi kiện nguyên đơn có yêu cầu Toà án phân chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 423, tờ bản đồ số 49 tại phường K theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 01937QSDĐ/TU do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp ngày 18/12/2001 đứng tên bà Võ Thị M. Tuy nhiên, theo kết quả đo đạc thực tế thì không có thửa đất số 423. Do đó, nguyên đơn xác định không tranh chấp và không yêu cầu Toà án giải quyết đối với thửa đất số 423.

Tại phiên toà, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 423 và diện tích đất mồ mã 254,8m² thuộc một

5

phần thửa đất 206, cùng tờ bản đồ số 49 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương và yêu cầu Toà án chia đều di sản thành 06 phần đối với quyền sử dụng đất gồm:

+ Diện tích đất 3.436,9m² thuộc các thửa đất số 319, 321, 322, 355, 356, 398, 399, 400 và diện tích 2990,8m² thuộc các thửa đất số 412, 413, 414, 462; cùng thuộc tờ bản đồ số 49 tại phường K theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01937QSDĐ/TU do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp ngày 18/12/2001 đứng tên bà Võ Thị M.

+ Diện tích đất 4.219m² thuộc thửa đất 206, tờ bản đồ số 49 tại phường K theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 01938QSDĐ/TU do UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp ngày 18/12/2001 đứng tên bà Võ Thị M.

Nguyên đơn yêu cầu được nhận kỷ phần bằng hiện vật (bằng quyền sử dụng đất). Nguyên đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn. Nguyên đơn không đồng ý trích công sức gìn giữ và chăm sóc cụ M cho bị đơn vì bị đơn đã hưởng lợi trên phần đất tranh chấp từ năm 2009 cho đến nay.

Trong nội dung đơn phản tố, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn ông Trần Quốc T và người đại diện hợp pháp của bị đơn thống nhất trình bày:

Về quan hệ huyết thống: thống nhất theo phần trình bày của nguyên đơn và đại diện hợp pháp của nguyên đơn về việc cụ Võ Thị M và cụ Trần Văn T12 có 06 người con như nguyên đơn trình bày. Ngoài ra, cụ M và cụ T12 còn có 02 người con chết từ nhỏ. Ông T xác định cụ Võ Thị M hay Vỏ Thị M1 là một người.

Về di sản: lúc sinh thời, cha mẹ ông T tạo lập nhà đất tại T, Bình Dương. Sau khi cha ông T là cụ Trần Văn T12 mất (1989), ngày 10/08/1991, cụ Võ Thị M (tức Vỏ Thị M1) đã lập văn bản “Giấy chia lại tài sản cho con” để phân chia tài sản này, có sự đồng ý của các con, cháu và sự chứng kiến của họ hàng nội ngoại. Nội dung phân chia tài sản theo Giấy chia lại tài sản cho con ngày 10/08/1991, như sau:

Đối với tài sản 1: phần diện tích đất gò 0,5ha (lúc đó hiện đang do ông K sử dụng) thì cho hẳn ông K; còn lại phần ruộng cấy được chia làm 6 phần cho 6 anh em (bắt thăm để nhận vị trí).

Đối với tài sản 3: trừ phần đã cho ông K (lúc khai hoang ông K được cho 01 phần), phần còn lại chia làm 6 phần bằng nhau cho 6 anh em.

Đối với tài sản 2 và tài sản 4: cho ông T sử dụng để canh tác nuôi cụ M1 và lo phần ơn nghĩa cho cụ M1 và khi cụ M1 chết thì cho ông T hẳn.

Đối với tài sản 5: cho bà Trần Thị Thu H3, bà Trần Thị Thu H, con của ông T13 và ông M2.

Việc phân chia tài sản theo Văn bản phân chia tài sản ngày 10/8/1991 được thực hiện như sau:

6

Tài sản 1 đã được phân chia làm 6 phần cho 6 anh em. Trong đó: phần của con ông T13, con ông M2, của bà Trần Thị Thu H đã nhận đủ và sau đó chuyển nhượng lại cho người khác.

Phần của bà Trần Thị Thu H3 hiện đang do ông Trần Quốc K chiếm giữ; ông K đã tự ý kê khai để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này cho ông K.

Phần của ông T khoảng 3.000m² giáp mương suối Bà T16 (là các thửa đất số 462, 412, 413 và 414, tờ bản đồ 49) nhưng để cho cụ Võ Thị M đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tài sản 2 và tài sản 4: để cho ông T trực tiếp quản lý, sử dụng từ đó đến nay. Tài sản này cũng cho cụ Võ Thị M đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tài sản 3: thực tế 6 anh em không phân chia. Tài sản này diện tích khoảng 1,5ha (đây là phần đất thuộc khu vực cây xăng K1, diện tích thực tế khoảng 1,2ha). Lý do không phân chia là khi làm mả cho cha và mẹ ông T (xây mả cho cụ M là xây dự phòng để được nằm bên cạnh cụ T12 vì khi ấy cụ M còn sống) không đủ tiền, các anh chị không ai góp tiền để xây mả. Chi phí để xây 02 (hai) cái mả cho cha và mẹ khi đó tốn đến 2,3 cây vàng nên cụ M dự định bán phần đất này để lấy tiền xây mả. Vì thế ông T đã phải tự bỏ ra toàn bộ chi phí này do đó cụ M đã đồng ý để lại cho ông T toàn bộ diện tích đất 1,2ha tại sở D2; 02 (hai) mả xây cho cha mẹ sau này do Nhà nước làm đường nên đã giải tỏa đền bù, tổng số tiền đền bù này đang do ông K chiếm giữ. Nguyên thửa đất tại sở 49 này là do cha mẹ ông T và 2 dì là dì Ú và dì T17 cùng với ông T, ông K và bà Trần Thị Thu H3 khai hoang từ trước năm 1978 mà có. Tổng diện tích đất lúc khai hoang được khoảng 2,7ha. Sau khi khai hoang, cha mẹ ông T đã đồng ý chia cho 2 dì mỗi người một phần, chia cho ông K và ông T mỗi người một phần, còn lại là để cho cha mẹ ông T (khoảng 1,2ha như lúc phân chia năm 1991). Phần đất của ông K được chia đã bán lại cho ông T vào năm 1998. Vậy nên thửa đất 1,2ha tại sở 49 là đất thuộc tài sản của ông T. Thửa đất này sau này cụ M đã chuyển nhượng lại cho người khác.

Tài sản 5: đã chia cho bà Trần Thị Thu H3, bà Trần Thị Thu H, con của ông T13 và ông M2. Những người được chia đã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình và đã chuyển nhượng lại cho người khác.

Tất cả các anh chị ông T đều đã được chia tài sản trên thực tế và phù hợp với văn bản phân chia tài sản gia đình được lập năm 1991; mỗi người đã làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dưới tên của mình; không ai có ý kiến hay tranh chấp gì đối với văn bản phân chia tài sản gia đình được lập năm 1991.

Phần tài sản còn lại của ông T gồm có:

Đất ruộng cấy diện tích khoảng 3.000m² (diện tích đo thực tế là 2.990,8m² thuộc các thửa đất số 462, 412, 413 và 414, tờ bản đồ 49) được chia từ tài sản 1 (phần ruộng khoảng 2ha do cha mẹ ông T mua);

7

Phần ruộng hương hỏa do bà ngoại ông T để lại cho cụ M khoảng 0,28ha (theo diện tích đo đạc thực tế là 3.457,6m² thuộc các thửa đất số 319, 321,322, 355, 356, 398, 399, 400, tờ bản đồ 49). Phần ruộng này trước khi có thỏa thuận phân chia tài sản gia đình năm 1991 thì do ông Trần Quốc K sử dụng, canh tác nhưng sau khi có thỏa thuận phân chia tài sản gia đình năm 1991 thì ông K giao lại cho ông T sử dụng canh tác để nuôi và lo phần ơn nghĩa thay cụ M. Đây là đất hương hỏa nên cụ M không phân chia cho các anh em ông T mà giao lại cho ông T quản lý, canh tác và khi cụ M mất thì cho ông T hẳn để canh tác lo việc thờ cúng bà ngoại và cụ T12, cụ M (trách nhiệm thờ cúng được cụ M phân chia rõ ràng trong Văn bản phân chia tài sản ngày 10/8/1991);

Phần nhà đất của cụ M tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Bình Dương và hiện này là căn nhà mà ông T đang ở. Phần đất này theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cụ M đứng tên có diện tích là 4.122m² (diện tích đo thực tế là 4.473,8m²), tuy nhiên thực tế phần đất của cụ Một khi ấy chỉ có khoảng 2.100m², còn khoảng 2.000m² là đất của ông T mua lại từ bà Nguyễn Thị Ú (hay còn gọi là bà Năm Đ2) liền kề với phần đất của cụ M và cụ T12.

Các anh chị ông T có gia đình và sống riêng nên từ trước năm 1991 cho đến khi cụ M mất, ông T là người chăm sóc, phụng dưỡng cụ M đồng thời là người canh tác, quản lý, sử dụng và đóng thuế sử dụng đất đối với toàn bộ các diện đất mà hiện cụ M đứng tên. Hiện cụ M đã qua đời, ông T là người thừa kế hợp pháp theo di chúc mà cụ M đã lập năm 1991 đối với: thửa đất số 462, 412, 413 và 414, tờ bản đồ 49; thửa đất số 319, 321,322, 355, 356, 398, 399, 400 tờ bản đồ 49; nhà đất thuộc thửa đất số 206, tờ bản đồ số 49, diện tích 4.473,8m² (trong đó có 1.354,6m² có nguồn gốc là ông T mua lại của bà Nguyễn Thị Ú). Do đó ông T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, có yêu cầu phản tố đề nghị Toà án giải quyết như sau:

  1. Công nhận “Giấy chia tài sản cho con” ngày 10/8/1991 do cụ Võ Thị M lập là hợp pháp.
  2. Công nhận cho ông Trần Quốc T được quyền sử dụng diện tích 2.990,8 m² thuộc các thửa đất số 462, 412, 413 và 414, cùng thuộc tờ bản đồ 49 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  3. Công nhận cho ông Trần Quốc T được quyền sử dụng diện tích 3.457,6 m² thuộc các thửa 319, 321, 322, 355, 356, 398, 399, 400 cùng thuộc tờ bản đồ số 49, tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  4. Công nhận cho ông Trần Quốc T được quyền sử dụng diện tích là 3.119,2 m² (trong đó có diện tích đất mồ mã là 254,8m²) thuộc thửa 206, tờ bản đồ số 49, tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  5. Công nhận cho ông Trần Quốc T được quyền sử dụng phần đất nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị Ú với diện tích là 1.354,6m², thuộc một phần thửa 206, tờ bản đồ số 49, tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Đối với căn nhà cấp 4 (loại nhà gỗ) là do cụ Võ Thị M để lại. Tuy nhiên, sau khi cụ M qua đời thì căn nhà này bị xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt là

8

phần mái ngói và nền nhà nên gia đình ông T đã trùng tu và sửa sang lại như hiện nay. Ngoài ra, gia đình ông T còn xây dựng thêm mái che phía trước nhà gỗ, cổng và hàng rào bao quanh nhà gỗ; các công trình khác trên các thửa đất hiện nguyên đơn tranh chấp đều do gia đình ông T xây dựng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và xác định không tranh chấp diện tích đất mồ mã 254,8m² thuộc một phần thửa đất 206, tờ bản đồ số 49 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Quốc K, người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị Thu T1, ông Trần Trọng T3, ông Trần Duy Đ1 trình bày: thống nhất ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu H; không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Quốc T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Thu H3 trình bày: không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Thống nhất ý kiến trình bày và yêu cầu phản tố của bị đơn. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà Trần Thị Thu H3 tự nguyện nhường kỷ phần của mình được chia cho bị đơn ông Trần Quốc T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị P, bà Trần Thị Ngọc Â, ông Trần Tuấn T4, bà Phạm Thị Kiều T5, ông Trần Thiện T6, bà Nguyễn Thị H4 và ông Trần Quốc T7 trình bày: bà P là vợ bị đơn ông Trần Quốc T; các ông, bà còn lại là con gái, con trai và con dâu của ông T thống nhất ý kiến trình bày và yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Quốc T; đồng thời có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị T8 trình bày: ngày 12/4/2021, bà T8 có ký hợp đồng thuê mặt bằng (diện tích 7mx11,5m) tại thửa đất 206, tờ bản đồ số 49 tại khu phố K, phường K, thành phố T với ông Trần Thiện T6 (con trai của ông Trần Quốc T), giá thuê 7.500.000 đồng/tháng; mục đích thuê để kinh doanh buôn bán mặt hàng điện, nước và vật liệu xây dựng; thời gian thuê 05 năm (từ ngày 01/6/2021 đến ngày 01/6/2026). Bà T8 đã xây dựng 01 căn nhà tiền chế vách tole + có gác, mái tole (do ông T xây dựng). Bà T18 không có ý kiến gì về nội dung tranh chấp thừa kế giữa nguyên đơn và bị đơn. Trường hợp Toà án xác định thửa đất 206 là di sản thừa kế thì bà T18 sẽ thương lượng với người được chia; đồng thời có đơn xin vắng mặt.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Ú trình bày: trước năm 1988, bà Nguyễn Thị Ú sinh sống và sử dụng hợp pháp phần đất có diện tích khoảng 2000m², giáp ranh với nhà cụ Võ Thị M tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố K, phường K, thành phố T). Đến năm 1989, gia đình bà Ú chuyển đến Đồng Nai sinh sống nên bà Ú đồng ý bán toàn bộ phần đất diện tích 2000m² này cho vợ chồng ông Trần Quốc T (khi đó vợ chồng ông T đang sống cùng bà M). Việc thoả thuận mua bán bằng lời nói, không lập giấy tờ gì. Số tiền thoả thuận mua bán phần đất là 01 chỉ vàng, bà Ú đã nhận đủ số vàng từ vợ ông T là bà Trần Thị P và đã bàn giao đất. Vị trí phần đất bà Ú bán cho ông T khi đó là tính từ đường lộ vào tới đất nhà ông T trước rồi mới tới đất của bà Ú. Khi đó, đất của bà Ú tiếp giáp đất của ông T, bà Trần Thị Q, còn

9

lại tiếp giáp đất của ông Nguyễn Văn L. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân phường K trình bày: thửa đất 397, tờ bản đồ số 49 thuộc quỹ đất công ích do Nhà nước quản lý (căn cứ Quyết định số 2159/QĐ-UBND ngày 19/7/2021 của UBND thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên. Do đó, đề nghị các đương sự trả lại diện tích 20,7m² thuộc thửa 397 cho địa phương quản lý; đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 182/2024/DS-ST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu:
    1. Yêu cầu chia quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 423, tờ bản đồ số 49 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
    2. Yêu cầu chia diện tích đất mồ mã 254,8m² thuộc một phần thửa đất số 206, tờ bản đồ số 49 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu H đối với bị đơn ông Trần Quốc T về việc “Tranh chấp thừa kế về tài sản” về việc chia di sản thừa kế đối với diện tích đất 3.436,9m² thuộc các thửa đất số 319, 321, 322, 355, 356, 398, 399, 400; diện tích đất 2.990,8m² thuộc các thửa đất số 412, 413, 414, 462 và diện tích đất 4.219m² thuộc thửa đất số 206; cùng tờ bản đồ số 49 toạ lạc tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Quốc T đối với các yêu cầu:
    1. Công nhận “Giấy chia tài sản cho con” ngày 10/8/1991 do cụ Võ Thị M lập là hợp pháp.
    2. Công nhận cho ông Trần Quốc T được quyền sử dụng diện tích đất 3.436,9m² thuộc các thửa đất số 319, 321, 322, 355, 356, 398, 399, 400; diện tích đất 2.990,8m² thuộc các thửa đất số 412, 413, 414, 462 và diện tích đất 4.219m² thuộc thửa đất số 206; cùng tờ bản đồ số 49 toạ lạc tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Có bản vẽ kèm theo).
    3. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  4. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn đối với yêu cầu công nhận diện tích 1.354,6m² thuộc một phần thửa 206, tờ bản đồ số 49, tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương từ việc nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Ú.

Ngoài ra bản án còn quyết định án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/12/2024 nguyên đơn bà Trần Thị Thu H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

10

Ngày 13/12/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu T1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bà H vẫn giữ yêu cầu kháng cáo và khởi kiện. Bà T1 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, bà T1 xác định bà T1 có ủy quyền cho ông T2, ông T2 vắng mặt bà T1 trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông T vẫn giữ yêu cầu phản tố. Ông H2 đề nghị xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, ông H2 sẽ tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày quan điểm tranh luận: đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để xác minh và giám định chữ ký, chữ viết, dấu vấn tay theo đơn đề ngày 28/5/2025 mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đã nộp. Trong trường hợp không tạm ngừng phiên tòa thì đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm điều tra thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, vi phạm tố tụng trong việc áp dụng pháp luật không đúng và việc đưa người tham gia tố tụng, tống đạt văn bản tố tụng cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Ú.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

- Về nội dung: đối với yêu cầu của bị đơn ông T về việc công nhận cho bị đơn diện tích 1.354,6m² thuộc một phần thửa 206, tờ bản đồ số 49, tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương là phần đất mà bị đơn cho rằng đã nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị Ú năm 1989. Tuy nhiên, quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm bị đơn ông T không có chứng cứ chứng minh về việc nhận chuyển nhượng này. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của bị đơn là phù hợp.

Căn cứ vào “Giấy chia tài sản cho con” do cụ Võ Thị M (tức Vỏ Thị X) cùng các con lập ngày 10/8/1991, xét thấy:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các đương sự đều thừa nhận cụ Trần Văn T12, năm sinh 1917, chết năm 1989 (không có giấy chứng tử) và ngày 10/8/1991, với sự chứng kiến của đại diện nội, ngoại hai bên, cụ M cùng các con đã tiến hành chia tài sản và ruộng.

Các đương sự thừa nhận cụ Võ Thị M hay Vỏ Thị X hay Vỏ Thị M1 là một người. Những người có tên trong văn bản đều ký tên và ghi rõ họ tên. Văn bản thể hiện ý chí tự định đoạt của cụ M1 và các con của cụ M1 và cụ T12. Như vậy, cụ Trần Văn T12 chết vào năm 1989, lúc này Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 đang có hiệu lực nên tài sản và ruộng đất được cụ Võ Thị M (tức Vỏ Thị X) chia cho các con được thể hiện tại “Giấy chia tài sản cho con” ngày 10/8/1991 là tài sản chung của vợ chồng cụ T12 và cụ M theo Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, quy định: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu,

11

hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/4/2023 (bút lục 136-140) của Tòa án sơ thẩm, xác định hầu hết các tài sản trên đất đều do bị đơn và các con bị đơn xây dựng.

Từ những tài liệu, chứng cứ trên nhận thấy, việc chia đất nêu trên là có thật diễn ra từ năm 1991 và đã được thực hiện. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định “Giấy chia tài sản cho con” ngày 10/8/1991 do cụ Võ Thị M (tức Vỏ Thị X) cùng các con lập là có giá trị pháp lý và hợp pháp là có căn cứ.

Như vậy, có căn cứ xác định các thửa đất này cụ M và các anh, chị của bị đơn đã chia cho bị đơn theo “Giấy chia tài sản cho con” ngày 10/8/1991. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận 01 phần phản tố của bị đơn ông Trần Quốc T là có căn cứ.

Do đó, nguyên đơn bà Trần Thị Thu H yêu cầu chia di sản thừa kế đối với các thửa đất trên đã được phân chia cho bị đơn ông Trần Quốc T theo “Giấy chia tài sản cho con” ngày 10/8/1991, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Xét thấy bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận 01 phần phản tố của bị đơn ông T là có căn cứ.

Bản án sơ thẩm tuyên “4. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn đối với yêu cầu công nhận diện tích 1.354,6m² thuộc một phần thửa 206, tờ bản đồ số 49, tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương từ việc nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Ú”, bị đơn không kháng cáo; nhận thấy bị đơn ông T đang quản lý, nhưng Tòa án không tuyên rõ giao cho ai tiếp tục quản lý hoặc diện tích đất này nằm trong phần đất là tài sản của cụ M là tuyên chưa đầy đủ.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu T1. Sửa cách tuyên tại Bản án dân sự thẩm như phân tích trên.

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, Luật sư, ý kiến của Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Ông Đào Văn T2 là người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị Thu T1 và Luật sư Lê Thành D là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Đồng thời, bà T1 xác định bà T1 tự tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình; ông H2 đề nghị xét xử vắng mặt Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, đây là sự tự định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của bà T1, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

12

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Duy Đ1, bà Trần Thị P, bà Trần Thị Ngọc Â, ông Trần Tuấn T4, bà Phạm Thị Kiều T5, ông Trần Thiện T6, bà Nguyễn Thị H4, ông Trần Quốc T7, bà Phạm Thị T19 đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị Ú có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên trên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Đối với yêu cầu xác minh và giám định chữ ký, chữ viết, dấu vân tay của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.

[3.1] Xét, quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, thu thập chứng cứ làm làm rõ về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đối với tài sản tranh chấp.

[3.2] Đối với yêu cầu xác minh làm rõ quyền sử dụng đất 1,2ha tại sở 49 cấp cho cụ M. Các đương sự thừa nhận cụ M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng vào năm 2005 và không tranh chấp quyền sử dụng đất trên. Căn cứ theo quy định tại Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ trong gian đoạn xét xử phúc thẩm là nghĩa vụ của đương sự. Do đó, Tòa án không tiến hành xác minh, thu thập theo yêu cầu trên của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.

[3.3] Đối với yêu cầu xác minh làm rõ “Giấy xác nhận chuyển nhượng đề ngày 23/9/2023", việc giao nộp chứng cứ nêu trên cũng như giám định chữ ký, chữ viết dấu vân tay của bà Ú tại giấy xác nhận nêu trên. Xét, ông T giao nộp chứng cứ để chứng minh cho phần trình bày của ông T, là thực hiện theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Giấy xác nhận nêu trên, bà Ú là người xác nhận cũng như các người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng bà Ú không ai khiếu nại về chứng cứ trên. Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn không khiếu nại cũng như không yêu cầu giám định. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết và việc giám định là không cần thiết nên không có căn cứ nhận theo quy định tại Điều 102 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3.4] Đối với việc lấy lời khai, xác minh làm rõ việc tống đạt văn bản tố tụng cho ông Trần Trọng T10, bà Trần Thị T11 cũng như việc vắng mặt của các đồng thừa kế của bà Ú gồm ông T10, bà T11, bà T9, ông C. Xét, quá trình tố tụng, thừa kế của bà Ú đều được tống đạt hợp lệ, ông T10 có lời khai và bà T9 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, yêu cầu trên là không có căn cứ chấp nhận.

[3.5] Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để tạm ngừng phiên tòa theo đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.

[4] Tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất số 423, tờ bản đồ số 49 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện và bị đơn và rút một phần yêu cầu phản tố đối với diện tích đất mồ mã 254,8m² thuộc một phần thửa đất

13

206, tờ bản đồ số 49 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với các phần yêu cầu khởi kiện và phản tố đã rút là phù hợp theo quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Tài sản tranh chấp theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc thực tế gồm phần:

Quyền sử dụng đất có là 3.436,9m² thuộc các thửa đất số 319, 321, 322, 355, 356, 398, 399, 400 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, tài sản trên đất gồm nhà tạm diện tích 59,6m², nhà tiền chế 284,8m², chồi tạm diện tích 45,5m², hồ cá diện tích 1774,1m², chồi lá diện tích 13,7m², chuồng heo diện tích 10m², mái che diện tích 15,5m². Các công trình có trên đất là do con bị đơn đầu tư xây dựng.

Quyền sử dụng đất diện tích 2.990,8m² thuộc các thửa đất số 412, 413, 414, 462 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương

Quyền sử dụng đất diện tích đất 4.473,8m² thuộc thửa 206, cùng tờ bản đồ số 49 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tài sản trên đất gồm 03 căn nhà có tổng diện tích 395,9m² (150,7m² + 196,7m² + 48,5m²); nhà cho thuê diện tích 1.104,7m², nhà vệ sinh diện tích 5m², mái che tổng diện tích 334,4m², hầm nước thải tổng diện tích 41,4m², nhà tiền chế diện tích 182,6m², khu mộ diện tích 254,8m², sân xi măng diện tích 198,2m², nhà lá 58,9m², chồi 12,5m². Các tài sản trên đều do gia đình bị đơn đầu tư, xây dựng, riêng đối với căn nhà diện tích 150,7m² của cụ M, ông T sửa lại trong quá trình quản lý, sử dụng.

Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1, ông K, người đại diện hợp pháp của ông T3 cho rằng quyền sử dụng đất trên là di sản của cụ Võ Thị M. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H3 cho rằng quyền sử dụng đất trên đã được cụ M chia cho bị đơn tại “Giấy chia tài sản cho con” ngày 10/8/1991 và một phần diện tích thửa 206 là do bị đơn nhận chuyển nhượng từ bà Ú.

[6] Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1, ông K, người đại diện hợp pháp của ông T3 thừa nhận:

“Phần ruộng 1 trừ khoản gò nhà K đang ở còn lại ruộng cấy chia 6 phần (sáu) - tính từ ngoài bờ cái tính vô, từ số 1 đến số 6, bắt thăm, đất gò nhà K (L1) đang ở cho hẳn (L1) và cái nhà ở T và khoản đất xung quanh giao lại cho Thu H3, Thu H, con của T13 và con của M2” đã được thực hiện.

“Phần đất gò Sở 49, trừ khoản của L1, còn lại chia đều bằng nhau 6 phần (sáu) và Ruộng của ngoại để lại và cái nhà tôi đang ở để lại cho T (Đủng) xử dụng làm để nuôi tôi và lo 1 phần ơn nghĩa cho tôi và khi tôi chết thì cho hẳn T” là chưa thực hiện.

Quá trình tố tụng, các đương sự đều không tranh chấp đối với phần đất gò Sở 49. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các đương sự đều thừa nhận phần đất này sau khi phân chia cụ Một đăng ký, kê khai và được cấp giấy, sau đó cụ M thực hiện việc chuyển nhượng vào năm 2004, lời khai các bên phù hợp với chứng cứ do

14

nguyên đơn cung cấp. Các bên không tranh chấp nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét và Tòa án cấp phúc thẩm cũng không xem xét đối với phần trên.

Đối với phần “Ruộng của ngoại để lại và cái nhà tôi đang ở để lại cho T (Đủng) xử dụng làm để nuôi tôi và lo 1 phần ơn nghĩa cho tôi và khi tôi chết thì cho hẳn T”. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các bên thừa nhận là phần đất đang tranh chấp, tuy nhiên nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1, ông K, người đại diện hợp pháp của ông T3 cho rằng cụ M đã thay đổi ý chí, không tặng cho ông T và cụ thể là cụ M đã đăng ký, kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01937QSDĐ/TU ngày 18/12/2001 đối với diện tích đất 6.412m² thuộc các thửa đất số 319, 321, 322, 355, 356, 398, 399, 400, 412, 413, 414, 423, 462 đều thuộc tờ bản đồ số 49 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01938QSDĐ/TU ngày 18/12/2001 đối với diện tích đất 4.122m² thuộc thửa 206, tờ bản đồ số 49 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

[7] Xét, quá trình tố tụng, các thừa kế của cụ M đều thừa nhận có việc lập và phân chia đất theo “Giấy chia tài sản cho con” ngày 10/8/1991. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các đương sự đều thừa nhận có việc thực hiện phân chia theo giấy chia tài sản trên, ông K thừa nhận ông K đã nhận phần của ông K, phần bà H3 thì bà H3 giao cho ông K, phần bà T1 (chi của ông T13) thì bà T1 chuyển nhượng cho ông K. Lời khai đương sự phù hợp với hồ sơ cung cấp thông tin về việc cấp GCNQSDĐ cho bà H, ông K, bà T15 (chi ông M2) do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T cung cấp ngày 27/11/2024; cụ thể: bà Trần Thị Thu H được UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp GCNQSDĐ số vào sổ H02502 ngày 05/5/2008 và số vào sổ H04020 ngày 04/8/2008, ông Trần Quốc K được UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp GCNQSDĐ số vào sổ 00468 ngày 17/5/19999 và bà Trần Thị T15 được UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp GCNQSDĐ số vào sổ H04155 ngày 28/10/2008. Trong các hồ sơ của bà H, bà T15 đều có tờ “Giấy chia tài sản cho con” ngày 10/8/1991, điều này chứng minh các bên đã đồng ý ký phân chia tài sản và nhận tài sản và thỏa thuận phân chia trên đã được thực hiện, sự tự nguyện cam kết, thỏa thuận là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được ghi nhận tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng. Các thừa kế đều đã nhận phần của mình, trừ ông T. Do ông T sống cùng cụ M, thực tế địa phương vùng miền nam, con út thường sống cùng cha mẹ, cha mẹ phân chia cho các con và phần con út thường cha mẹ vẫn đứng tên và giao lại cho con út sau khi chết. Thực tế, sau khi có tờ phân chia, tuy cụ M đăng ký kê khai quyền sử dụng và được cấp gấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng người quản lý, sử dụng đất là ông T cùng các con ông T được thể hiện tại kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, chứng minh việc phân chia ông T đã tiếp quản, sử dụng đất trên thực tế, đúng với ý chí của cụ M tại tờ phân chia “Ruộng của ngoại để lại và cái nhà tôi đang ở để lại cho T (Đủng) xử dụng làm để nuôi tôi và lo 1 phần ơn nghĩa cho tôi và khi tôi chết thì cho hẳn T”. Do đó, cụ M có đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cũng không thay đổi nội dung của việc cho đất trên, tờ phân chia trên thể

15

hiện ý chí của cụ M “khi tôi chết thì cho hẳn T”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực của “Giấy chia tài sản cho con” ngày 10/8/1991, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn công nhận hiệu lực của “Giấy chia tài sản cho con” là có căn cứ.

[8] Đối với yêu cầu công nhận diện tích 1.354,6m² thuộc một phần thửa 206, tờ bản đồ số 49, tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương từ việc nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Ú. Quá trình tố tụng, ngoài xác nhận của bà Ú, ông T không đưa ra đưa ra chứng cứ chứng minh nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu trên và công nhân diện tích 1.354,6m² là thuộc phần đất cụ M đã định đoạt cho ông T là có căn cứ.

[9] Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu T1 là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn là không có căn cứ.

[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa không chấp nhận kháng cáo của bà H và bà T1 là phù hợp. Đối với yêu cầu sửa cách tuyên án là không phù hợp.

[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: đương sự phải chịu theo quy định. Tuy nhiên, bà H là người cao tuổi nên được miễn nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Thu H và bà Trần Thị Thu T1.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 182/2024/DS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Trần Thị Thu H được miễn nộp.

    Bà Trần Thị Thu T1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tạm ứng đã nộp tại Biên lai thu số 0004806 ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

16

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - TAND thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Mộng Tuyết

17

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 333/2025/DS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 333/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger