Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 333/2024/HSST

Ngày: 17/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Chi
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Khải– Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 301/2024/HSST ngày 10 tháng 6 năm 2024 hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 363/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Dương Thị T; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không có; Ngày sinh: 15/4/1995 tại: Bắc Giang; Nơi thường trú: Thôn P, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nơi cư trú: H đường số H, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Dương Văn L và bà Nguyễn Thị X; Chồng: Khổng Đức H (Đã ly hôn); Con: Khổng Đức H1; Sinh năm: 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị giam giữ từ ngày 29/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Phạm Trường G, sinh năm: 2001 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: B M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Chị Đặng Thị Quế T1, sinh năm 2005 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp

  5. Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1968 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: D chung cư H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

  7. Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1984 (vắng mặt)
  8. Địa chỉ: H đường số H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 05/2023, do có nhu cầu bán dâm và tìm khách mua dâm, Đặng Thị Quế T1 tham gia mạng xã hội vào trang web gaito.is và quen biết với 01 người tên “Tom” sử dụng nickname là "Yang Hung” (không rõ lai lịch). T1 và người tên “Tom” thỏa thuận thống nhất “Tom” sẽ giới thiệu người chụp hình khỏa thân cho T1 đăng trên trang mạng nhằm tìm khách mua dâm, T1 sẽ phải trả cho “Tom” tiền phí là 3.500.000 đồng/tháng, nếu đẩy bài lên trang đầu thì phải trả thêm 500.000 đồng. Sau đó, “Tom” giới thiệu cho T1 một người tên T2 (không rõ lai lịch) để chụp hình khỏa thân cho T1. Trân được T2 dẫn đến khách sạn tại phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh chụp ảnh để đăng trên trang web gaito.iskhách mua dâm. Do T1 không có tài khoản Zalo nên T2 gửi các file ảnh khỏa thân của T1 đến tài khoản Zalo có nickname “Quỳnh A” (được đăng ký bằng số điện thoại 0367.567.xxx của Dương Thị T) cho Dương Thị T theo yêu cầu của T1 để Trân kiểm tra. Trân thấy tài khoản nickname là “T” (là tài khoản nickname của T3) đã đăng bài viết giới thiệu hình ảnh khỏa thân của Trân trên trang web gaito.isTrân mượn số tài khoản 1016850193 mở tại Ngân hàng V của Dương Thị T để chuyển khoản số tiền 4.000.000 đồng (bao gồm tiền bán dâm hàng tháng là 3.500.000 đồng/1tháng và tiền đẩy bài lên trang đầu là 500.000 đồng) cho người tên “Tom” qua tài khoản số 1035554820 mở tại Ngân hàng V mang tên H CHEL BYA (do T3 cung cấp). Sau đó, T1 và T thống nhất thuê Phòng 405 Khách sạn N1, địa chỉ H đường số H, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Nguyễn Thị Kim N (là chủ kinh doanh) và ông Nguyễn Minh Q (là quản lý) để hoạt động mại dâm nhưng không nói cho bà N và ông Q biết mình bán dâm ở khách sạn, không chia tiền bán dâm cho bà N và ông Q. Tại khách sạn, T chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng điện thoại có số thuê bao 0906811762 để nhận khách mua dâm. Khi khách có nhu cầu mua dâm sẽ liên lạc với T rồi T thông báo lại cho T1 đến điểm hẹn để bán dâm. Hàng tháng, T1 cho T từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng tiền mặt.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 23/11/2023 khi T1 và T đang ở Phòng 405 Khách sạn N1 thì Phạm Trường G (là khách mua dâm) gọi điện thoại đến số thuê bao 0906811762 đề nghị mua dâm với giá 500.000 đồng thì T nghe điện thoại rồi T báo lại cho T1. Sau đó, T hướng dẫn G đến thuê phòng tại Khách sạn N1, địa chỉ: H đường số H, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, G đến thuê Phòng 204 Khách sạn N1 rồi nhắn tin số phòng cho T biết. Khoảng 10 phút sau, T1 xuống Phòng 204 gặp G để bán dâm. Khi G và T1 đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì Công an phường L kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ vật chứng liên quan và đưa tất cả về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Dương Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và khai nhận đã thu lợi bất chính số tiền 42.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng (điện thoại của T1 đưa cho T quản lý);
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu bạc (điện thoại của T1 đưa cho T quản lý);
  • - 01 bao cao su chưa sử dụng;
  • - 01 sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú tại Khách sạn N1;
  • - Tiền Ngân hàng Việt Nam: 500.000 VNĐ (thu giữ của T1).

Cáo trạng số 302/CT-VKSTPTĐ ngày 10/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Dương Thị T về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Dương Thị T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù;

Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo cũng nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người mua bán dâm, vật chứng đã thu giữ. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 15h30' ngày 23/11/2023, tổ công tác Công an phường L, thành phố T tiến hành kiểm tra hành chính đối với khách sạn N1, địa chỉ: H đường số H, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra, phát hiện tại phòng 204 của khách sạn N1, G và T1 đang có hành vi mua bán dâm. Quá trình điều tra xác định, Dương Thị T đã có hành vi làm trung gian dẫn dắt để các đối tượng trên thực hiện việc mua bán dâm nhằm thu lợi bất chính. Hành vi làm trung gian, môi giới, dẫn dắt của bị cáo T để cho G và T1 thực hiện việc mua dâm, bán dâm là đã phạm vào tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến trật tự xã hội, gây tác động tiêu cực đến nếp sống văn minh, hủy hoại nhân cách con người, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, làm lây truyền nhiều bệnh xã hội nguy hiểm. Vì vậy cần có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Tuy nhiên cũng xét, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu bạc, xét hai điện thoại này T và T1 sử dụng để liên lạc mua bán dâm, là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 bao cao su chưa sử dụng là tang vật trong vụ án, xét tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú tại Khách sạn N1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại ông Nguyễn Minh Q là quản lý của khách sạn N1.
  • - Tiền Ngân hàng V1: 500.000 VNĐ (thu giữ của T1) là số tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 42.000.000 đồng tiền mà T1 đưa cho T hàng tháng từ việc mua bán dâm là số tiền mà T có được từ việc thu lợi bất chính nên buộc Dương Thị T nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
  2. Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị T phạm tội “Môi giới mại dâm”.

  3. Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
  4. Xử phạt: Dương Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2023.

  5. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sựĐiều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  6. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu bạc và số tiền 500.000 đồng.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 bao cao su.

    Trả lại: 01 sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú tại khách sạn N1 cho ông Nguyễn Minh Q là quản lý của khách sạn N1.

    (Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK24/306C ngày 10/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh số 6401/314153 ngày 10/6/2024).

    Buộc bị cáo Dương Thị T nộp lại số tiền 42.000.000 đồng (bốn mươi hai triệu đồng chẵn) để sung vào ngân sách nhà nước.

  7. Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sựNghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
  8. Buộc bị cáo Dương Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 333/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (môi giới mại dâm)

  • Số bản án: 333/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Môi giới mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị T phạm tội “Môi giới mại dâm”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger