|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 332/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/8/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Ông Trần Văn Chánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1590/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng D, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên hệ: Số F đường N, khu phố B, phường T, TP .Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Phạm Anh T, sinh năm 1980.
Địa chỉ: H, khu phố I, đường Đ, phường T, thành phố Biên Hò, tỉnh Đồng Nai.(Bà D, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Hồng D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 14/4/2008. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu đến năm 2020, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông T, mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông T có 01 con chung là cháu Phạm Trung H, sinh ngày 17/10/2010. Ly hôn, bà yêu cầu Tòa án giao cháu H cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà D có đơn xin Tòa án xét xử vắng mặt vì bận công việc.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Anh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Hồng D kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 14/4/2008. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu thì vài năm trở lại đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn chủ yếu do vấn đề tài chính, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Nay bà D yêu cầu xin ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn do ông theo đạo Công giáo và mâu thuẫn chưa được giải quyết với nhau.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà D có 01 con chung là cháu Phạm Trung H, sinh ngày 17/10/2010. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, ông đồng ý giao cháu H cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nhưng ông T đồng ý cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông T có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Hồng D. Cho bà D ly hôn với ông Phạm Anh T.
Về con chung: Giao cháu Phạm Trung H, sinh ngày 17/10/2010 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Hồng D xin ly hôn với ông Phạm Anh T. Quá trình giải quyết vụ án, ông T cung cấp địa chỉ cư trú hiện nay là: 823, khu phố I, đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Tại phiên toà, bà D, ông T có đơn xin giải quyết vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D, ông T.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng D:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông T tự nguyện xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 14/4/2008 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Theo trình bày của bà D thì sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do vấn đề về tài chính, thường xuyên cãi vã nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng đều không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ, bà D xin được ly hôn với ông T. Toà án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D, ông T. Tại biên bản xác minh ngày 12 tháng 7 năm 2024, địa phương không cung cấp được thông tin mâu thuẫn vợ chồng do bà D, ông T không trình báo với địa phương.
Tuy nhiên, quá trình làm việc và tại phiên hoà giải, bà D, ông T xác nhận quan hệ hôn nhân giữa bà D, ông T có mâu thuẫn tình cảm chủ yếu do vấn đề tài chính, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, không quan tâm đến nhau. Tòa án đã tiến hành hoà giải để các đương sự đoàn tụ với nhau nhưng kết quả hoà giải không thành, các bên không đưa ra được biện pháp để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, đồng thời bà D vẫn cương quyết ly hôn.
Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà D, ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, các bên không có thiện chí trong việc hàn gắn mối quan hệ, không thể hoà giải hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, nay bà D xin ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Quá trình chung sống, bà D và ông T có 01 con chung tên là cháu Phạm Trung H, sinh ngày 17/10/2010. Ly hôn, bà D có ý kiến yêu cầu Tòa án giao cháu H cho bà được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Qua tham khảo ý kiến của cháu H thì cháu có nguyện vọng được sống chung với bà D, được bà D trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định, tôn trọng nguyện vọng của hai cháu nên chấp nhận yêu cầu của bà D, giao cháu H cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Vì quyền lợi của con chung khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Bà D, ông T trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Bà D, ông T trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Hồng D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Hồng D, cho bà Nguyễn Hồng D được ly hôn với ông Phạm Anh T.
-
Về con chung: Giao cháu Phạm Trung H, sinh ngày 17/10/2010 cho bà Nguyễn Hồng D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung : Không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Hồng D phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai số 0004195 ngày 11/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà (Bà D đã nộp xong).
- Bà Nguyễn Hồng D, ông Phạm Anh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trần Trúc Thuỷ |
Bản án số 332/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 332/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng Diễm ly hôn với Phạm Anh Tuấn
