TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 332/2023/HS-ST Ngày: 21-11-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Bích Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hạng Minh Thu và bà Võ Thu Trang
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thảo – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 298/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Lương Thành K, sinh ngày 12/11/2000, tại Thái Nguyên; giới tính: Nam, nơi thường trú: xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Lương Thành C; Con bà: Lý Thị Minh N; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: 02
- Tại Quyết định số 175/QĐ-UBND ngày 03/8/2021 của UBND xã T, huyện V áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn 03 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 03/11/2021
- Tại Bản cáo trạng số 57/CT-VKSVN ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị can Lương Thành Kiên về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/7/2023 đến nay, hiện bị cáo tạm giam tại Trại giam công an tỉnh T (có mặt tại phiên tòa)
*Người bào chữa cho bị cáo do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T giới thiệu: Bà Lê Thúy H- trợ giúp viên pháp lý (có mặt).
*Bị hại: Cháu Vi Long H1, sinh ngày 05/10/2005
Đại diện hợp pháp bị hại: anh Vi Văn T, sinh năm 1980,
Nơi thường trú: xóm T, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
(có đơn xin xử vắng mặt)
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1987, nơi thường trú: xóm C, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên
(có đơn xin xử vắng mặt)
* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thái H3, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Nơi thường trú: tổ dân phố G, phường Đ thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/6/2023 Lương Thành K xin vào làm nhân viên tại nhà hàng D, thuộc tổ dân phố G, phường Đ, thành phố T, trong quá trình làm việc tại đây K biết Vi Long H1 cũng là nhân viên của nhà hàng có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 20F1-716.67 nên K nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên.
Khoảng 19 giờ 30 ngày 09/7/2023, do cần tiền để mua ma túy sử dụng nên khi K thấy H1 đứng gần vị trí chị Nguyễn Thị Thái H3 là quản lý nhà hàng nên đến gần xin chị H3 cho K ra ngoài mua dép và đồ dùng cá nhân mục đích để H1 tin tưởng khi được chị H3 đồng ý, K hỏi H1 mượn xe để đi mua dép, do tin tưởng nên H1 nhất trí và đã đưa chìa khóa xe cho K. Sau khi mượn được xe K điều khiển đi đến nhà anh Nguyễn Văn H2 ở xã L, huyện V để bán, trên đường đi do sợ bị phát hiện nên K tháo biển kiểm soát của chiếc xe mô tô và để ở vị trí giá để hàng phía trước xe. Khi đi đến nhà anh Nguyễn Văn H2 thấy biển kiểm soát bị rơi nên K đã nói với H2 là xe Kiên mua trả góp do đó chưa có biển kiểm soát, giấy đăng ký xe và đồng ý bán xe trên cho H2 với giá 3.000.000 đồng. Sau khi bán được xe K bắt taxi về nhà nghỉ gần bến xe khách T, tiêu sài hết số tiền trên. Do anh H1 nhiều lần liên hệ với K không được nên ngày 24/7/2023 đã trình báo công an phường Đ, thành phố T giải quyết, ngày 27/7/2023 cơ quan điều tra đã đưa K đến nơi bán tài sản, anh Nguyễn Văn H2 đã thừa nhận việc mua xe mô tô và bàn giao chiếc xe trên cho cơ quan cảnh sát điều tra thành phố T xử lý theo quy định.
Tại bản Kết luận số 185/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Đen, BKS: 20F1-716.67, SK RLHJA3922PY715414, SM JA39E3057066, đã qua sử dụng giá trị là 18.160.000 đồng.
Bản cáo trạng số 305/CT-VKSNDTPTN ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Lương Thành K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Lương Thành K thừa nhận do nghiện ma túy, muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên đã đưa ra thông tin gian dối để anh H1 tin tưởng giao xe để bán lấy tiền tiêu sài như nội dung bản cáo trạng tuy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Thành K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lương Thành K 15-18 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Trách nhiệm dân sự: anh Vi Long H1 đã nhận lại xe không có yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét. Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng của bị cáo sung ngân sách nhà nước. Bị cáo gia đình thuộc hộ nghèo miễn án phí cho bị cáo
Phần tranh luận: Người bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét bị cáo là hộ nghèo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng mức án 12 tháng tù, phần dân sự bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
1.2 Theo lý lịch bị can xác định bị cáo có trình độ học vấn 7/12 tuy nhiên tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 175/QĐ-UBND ngày 03/8/2021 và lý lịch bị can do Cơ quan điều tra huyện V lập ngày 15/8/2023 đồng thời tại phiên tòa bị cáo xác định có trình độ học vấn 11/12 do đó Hội đồng xét xử xác định bị cáo có nhân thân lai lịch như trên.
1.3 Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại Vi Long H1 và đại diện theo pháp luật của cháu Hoàng, A Vi Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định xét xử vắng mặt cháu H1, anh T và anh H2.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Trong quá trình làm việc tại nhà hàng D do biết Vi Long H1 có chiếc xe Honda Wave nên Lương Thành K muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên ngày 09/7/2023 đã đưa thông tin mượn xe đi chợ nhằm chiếm đoạt tài sản. Sau khi được Vi Long H1 cho mượn xe, K tháo biển số xe và mang đến nhà anh Nguyễn Văn H2 nói xe mua trả góp chưa có giấy tờ và đăng ký và bán cho anh H2 3.000.000 đồng sau đó tiền tiêu sài cá nhân hết.
[3] Với mục đích chiếm đoạt tài sản, K đã đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt xe mô tô BKS 20F1-716.17 của Vi Long H1, giá trị tài sản chiếm đoạt được Hội đồng định giá kết luận là 18.160.000 đồng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015
[4] Xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo thấy: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần có mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo tại địa phương là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xem xét bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường về hành vi ma túy, trước ngày thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này ngày 18/4/2023 đã chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Minh N1 đến nay vụ án đã bị truy tố và chờ xét xử cho thấy bị cáo là đối tượng lười lao động, thiếu tu dưỡng rèn luyện, do đó Hội đồng xét xử xem xét cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo tu dưỡng rèn luyện, giáo dục bị cáo và phòng chống tội phạm chung.
[6] Trách nhiệm dân sự: Ngày 11/9/2023 cơ quan cảnh sát điều tra đã trả chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 20F1-716.67 cho anh Vi Long H1 quản lý, sử dụng đến nay anh H1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét. Đối với số tiền 3.000.000 đồng anh Nguyễn Văn H2 trả tiền mua xe của K tuy nhiên anh H2 không yêu cầu bị cáo bồi thường xác định đây là sự tự nguyện thỏa thuận của anh H2 nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng...". Tuy nhiên, xem xét gia đình bị cáo là hộ nghèo tại địa phương theo Giấy chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo số 59/GCN-HN.HCN ngày 01/01/2022 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, do đó Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Đối với anh Nguyễn Văn H2 do có quen biết nên thấy K nói xe mua trả góp nên tin tưởng mua xe, anh H2 không biết là tài sản do phạm tội mà có, sau khi biết là tài sản trộm cắp đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra để trả cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét
[9] Gia đình bị cáo là hộ nghèo tại địa phương năm 2023 căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thuộc trường hợp miễn án phí.
[10] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy có phần nghiêm khắc, đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Thành K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm i,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Lương Thành K 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2023
- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.
- Trách nhiệm dân sự: KHông đặt ra xem xét
- Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Thành K.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Lương Thành K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Cháu Vi Long H1 và anh Vi Văn T và anh Nguyễn Văn H2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Quyết tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Bích Hiền |
Bản án số 332/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 332/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Thành K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
