|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 332/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08-4-2025 V/v "Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 08 tháng 04 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1273/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 03 năm 2025.
- Nguyên đơn: Bà Nông Thị L, sinh năm 1979;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Nông Thị L trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn P chung sống từ năm 2003, có tổ chức lễ cưới và tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41, quyển số 1/2003 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình cấp ngày 11 tháng 11 năm 2003. Thời gian đầu, hai vợ chồng sống hạnh phúc nhưng dần phát sinh mâu thuẫn, đỉnh điểm là từ năm 2019, nguyên nhân là ông P thường xuyên bài bạc, bỏ bê gia đình và con cái, khiến gia đình ngột ngạt trong sự im lặng, ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý các con. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông P để sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông Nguyễn Văn P có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 19/05/2004 đã trưởng thành và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 21/01/2014. Bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Đăng K và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: bà khai không có.
Theo nội dung bản tự khai – bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:
Ông và bà L sống chung từ năm 2001 đến năm 2025, có tổ chức hôn lễ và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trong quá trình chung sống, ông P và bà L có thuê nhà để ở, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh không có nguyên nhân, công việc không nhất quán, phần ai người đó phải tự lo, không quan tâm đến nhau nên nhiều khi không ai nói chuyện với ai.
Về quan hệ hôn nhân: do con còn nhỏ, ông P không muốn ly hôn, ông muốn vợ chồng cùng nhau chăm sóc con trưởng thành.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 19/05/2004 đã trưởng thành và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 21/01/2014. Ông P không trình bày về yêu cầu nuôi con của bà L.
Về tài sản chung: ông khai không có.
Về nợ chung: ông khai không có.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ: Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông P, nhưng ông P không đến Tòa án tham gia phiên họp, bà L có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa:
Bà Nông Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn P vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- [1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nông Thị L yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn P; ông P cư trú tại huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- [1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: ông Nguyễn Văn P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, kèm các Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Bà Nông Thị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 41, quyển số 1/2003 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình cấp ngày 11 tháng 11 năm 2003 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông P là hợp pháp. Nay bà L yêu cầu được ly hôn ông P vì quá trình chung sống không hạnh phúc, không khí gia đình ngột ngạt, ảnh hưởng tâm lý các con.
Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình, có nghĩa vụ sống chung với nhau, tuy nhiên, hiện nay hai vợ chồng đã không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, tại bản tự khai ông P cũng xác nhận vợ chồng phần ai người đó phải tự lo, không ai nói chuyện với ai, như vậy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận lời trình bày và yêu cầu của bà L là được ly hôn với ông P.
[2.2] Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 19/05/2004 đã trưởng thành và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 21/01/2014. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Đăng K và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Xét trẻ Nguyễn Đăng K hiện đang sinh sống cùng bà L và trẻ có nguyện vọng được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi cha mẹ ly hôn nên bà L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông P do bà L không yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông P khai vợ chồng không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
[2.4] Về nợ chung: Bà L, ông P xác định không có.
[3] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Nông Thị L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nông Thị L.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nông Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn P.
- - Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 19/05/2004 đã trưởng thành và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 21/01/2014. Giao trẻ K cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông P do bà L không yêu cầu.
Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Bà L cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- - Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
- - Về nợ chung: Bà L, ông P xác định không có.
- Về án phí: Bà Nông Thị L phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí do bà L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0042668 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Oanh |
Bản án số 332/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 332/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
