|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 332/2024/HNGĐ-ST Ngày 09-12-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Minh Nguyệt;
- Ông Đỗ Xuân Quyết.
Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 228/2024/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 8 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 312/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 170/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Vân A, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Hà Anh D, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú: Hồ N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/8/2024; các bản tự khai đề ngày 15/8/2024 và 21/8/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn (chị Nguyễn Vân A) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/4/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã lẫn nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Đến năm 2019 thì anh D bỏ đi nước ngoài lao động dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Do xa cách về địa lý, khả năng đoàn tụ không còn nên chị đề nghị Toà án giải quyết được ly hôn với anh Hà Anh D.
Về con: Có một con chung là Hà Anh T, sinh ngày 06/4/2018. Ly hôn, chị đề nghị Toà án giao con chung cho chị nuôi dưỡng đến khi trưởng thành
Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn xin ly hôn đề ngày 05/11/2024 đã được T1 tại Hồ N và Ma C chứng thực vào ngày 11/11/2024, bị đơn là anh Hà Anh D trình bày:
Thống nhất với chị Nguyễn Vân A về thời gian kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và anh cũng có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Vân A.
Về con chung: Đề nghị Toà án giao con chung là cháu Hà Anh T, sinh ngày 06/4/2018 cho chị Nguyễn Vân A nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh và chị Vân A không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn (chị Vân A) vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn (anh D) vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do; Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do vắng mặt của các đương sự; công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
-
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
-
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 71, Điều 127, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử: Chị Nguyễn Vân A được ly hôn với anh Hà Anh D.
Về việc nuôi con: Giao cho chị Nguyễn Vân A trực tiếp nuôi dưỡng con là Hà Anh T, sinh ngày 06/4/2018, cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản: Chị Vân A và anh D đều không yêu cầu Toà án giải quyết, phân chia tài sản chung nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Nguyên đơn (chị Nguyễn Vân A) khởi kiện đối với bị đơn là anh Hà Anh D, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú: Hồ N. Anh Dũng cũng có đơn đề nghị Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Vân A. Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn (chị Vân A) vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn (anh D) vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Anh D và chị Nguyễn Vân A kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng theo quy định của pháp luật (Giấy chứng nhận kết hôn số 31/2018, ngày 27/4/2018). Do đó, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì quan hệ hôn nhân được xác lập giữa anh D và chị Vân A là hợp pháp.
- Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện trong thời gian chung sống giữa anh D chị Vân A phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều khác biệt về quan điểm sống. Sau đó, đến năm 2019 thì anh D lại sang Hồ N sinh sống và làm việc đến nay chua quay trỏ về Việt Nam. Vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ. Chị Vân A khởi kiện đề nghị giải quyết ly hôn và anh D cũng có đơn nêu ý kiến đồng ý giải quyết ly hôn với chị Vân A.
- Xét thấy, chị Vân A và anh D đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chung sống với nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình; làm cho cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vân A đối với anh D theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về con chung: Chị Vân A và anh D có một con chung là Hà Anh T, sinh ngày 06/4/2018. Ly hôn, chị Vân A và anh D đều có ý kiến thống nhất việc giao con chung cho chị Vân A được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của cả hai bên và phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Vân A và anh D tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản: Chị Vân A và anh D không có yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Vân A là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Chị Vân A và anh D đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Vân A, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Vân A được ly hôn với anh Hà Anh D.
- Về con chung: Giao con là Hà Anh T, sinh ngày 06/4/2018 cho chị Nguyễn Vân A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo qui định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên không có yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Vân A và anh D không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn (chị Nguyễn Vân A) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai ký hiệu BLTU/23, số 0000608, ngày 07-8-2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Vân A đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Nguyễn Vân A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Anh Hà Anh D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Kiên |
Bản án số 332/2024/HNGĐ-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 332/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khưởi kiện
