Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 332/2024/HSST

Ngày: 25/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Ninh
  2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Lan

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Vũ Đăng Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 319/2024/TLST-HS, ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 335/2022/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với:

- Bị cáo: Lê Thanh H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 27/4/1974

Nơi cư trú: Tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông: Lê Kim C (đã chết) và con bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1943; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Vợ là Vũ Thị H2, sinh năm 1984, có 01 con sinh năm 2006.

Tiền án: Tại bản án hình sự số 498/2022/HSST ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên xử phạt Lê Thanh H 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phí ngày 13/02/2023 và chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/12/2023”.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Tại Quyết định số 61/2019/QĐ-TA ngày 31/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 16 tháng. Chấp hành xong ngày 06/7/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh T (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến:

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 13/9/2024, tổ công tác Công an phường Q, TP T nhận được tin báo tại nhà Lê Thanh H tại tổ A, phường Q, thành phố T có các đối tượng mua bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác Công an phường tiến hành xác minh, kiểm tra. Quá trình kiểm tra, H tự giác lấy từ túi quần phía trước đang mặc ra 03 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng ra giao nộp cho tổ công tác. H khai đó là ma túy Heroine H mua được của một người không quen biết với giá 200.000 đồng về để bán kiếm lời. Tổ công tác tiến hành lập biến bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ niêm phong vật chứng ký hiệu Al theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khôi lượng sô chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu (A1) có khối lượng 0,438 gam và lây toàn bộ số chất bột màu trắng trên đưa vào một bì niêm phong ký hiệu (H1) để gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1014/KL-KTHS ngày 21/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu (H1) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,438 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Thanh H khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 12/9/2024 H đi từ nhà đến khu vực ngõ F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, để tìm mua ma túy về bán kại cho các đối tượng nghiện, khi đi đến khu vực ngõ F, H gặp 01 nam giới khoảng 35 tuổi (không rõ họ, tên tuổi địa chỉ), Hà hỏii và mua ma túy, người nam giới đồng ý bán cho H 03 gói ma tuý với giá 300.000 đồng, sau khi mua được ma tuý H mang về nhà cất giấu, để bán các đối tượng nghiện. Đến ngày 13/9/2024 H cất số ma tuý trên vào túi quần bên phải đang mặc trên người, mang đi bán lại cho các đối tượng nghiện, nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an phường Q, Thành phố T kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ 03 gói ma túy như trên.

Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu H1 (bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu); 01 bì niêm phong ký hiệu H2 (bên trong có chứa vỏ bao mẫu ban đầu). Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dấn sự thành phố T chờ xử lý.

Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 323/CT-VKSTPTN, ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Phần luận tội tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 323/CT-VKSTPTN, ngày 30/10/2024 đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51,điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thanh H mức án từ 36 đến 42 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu H1,H2 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao mẫu ban đầu.

Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội và thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thanh H tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 13/9/2024 tại khu vực tổ A, phường Q, thành phố T, Lê Thanh H có hành vi tàng trữ trái phép 0,438 gam chất ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố T bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,438 gam ma túy, loại Heroin, nhằm mục đích bán kiếm lời của Lê Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 323/CT-VKSTPTN, ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy.

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, làm phát sinh các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán kiếm lời là vi phạm pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt về tội tàng trữ trái phép chất ma túy đến ngày 20/12/2023 chấp hành xong hình phạt tù, ra trại bị cáo không lấy đó làm bài học, không chịu rèn luyện tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà vì nhu cầu bản thân tiếp tục đi vào con đường phạm tội.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần này khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Mức án mà đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của BLHS, thì:

“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Bị cáo Lê Thanh H phạm tội vì mục đích lợi nhuận nên cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ nhà nước.

[6]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:

Nguồn gốc số ma túy loại Heroin, Lê Thanh H khai mua của một người đàn ông không quen biết (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người đàn ông trên, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

[7]. Vật chứng vụ án:

01 bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu H2 chứa vỏ bao mẫu ban đầu là vật cấm lưu thông và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ khoản 1 Điều 251, Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Về tội danh và hình phạt:
    1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
    2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2024.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

    - Tịch thu tiêu hủy:

    • + 01 bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong chứa 1,417 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ bao mẫu gửi giám định, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các dấu hình tròn củaPhòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.
    • + 01 bì niêm phong ký hiệu H2 bên trong chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của cơ quan CSĐT công an thành phố T.

    (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 32 ngày 08/11/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, ngày 16/11/2022).

  4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thanh H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 332/2024/HSST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 332/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 18 tháng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger