Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do –Hạnh phúc

Bản án số: 332/2024/HS-ST

Ngày 19-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Văn Nhung
  2. Ông Phan Văn Cường.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vương, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 363/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 351/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Anh M, sinh năm 1994 tại tỉnh Bến Tre; thường trú: Số E tổ B, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1971; bị cáo có 01 em ruột sinh năm 2001; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1992; địa chỉ: Xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vũ Hữu D, sinh năm 1999; địa chỉ: Khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Đ, (không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 14/8/2024, sau khi uống cà phê tại đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Anh M đi bộ về hướng đường N. Khi đến trước tiệm S tại địa chỉ số A N, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương do anh Vũ Hữu D quản lý. M nhìn thấy có xe mô tô dựng trước vỉa hè không người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. M lén lút tiếp cận xe mô tô màu đỏ đen, hiệu Yamaha Exciter 135, biển số 19S1 – 028.96 dùng tay quay đầu xe ra đường. Sau đó, M ngồi lên xe bật chìa khóa đề nổ máy xe tẩu thoát nhưng máy xe không nổ nên M đẩy xe về hướng Cổng xe lửa 14 được khoảng 30 mét thì anh D ở trong tiệm sửa xe phát hiện đuổi theo tới ngã ba Cổng xe lửa 14. Lúc này, lực lượng Công an phường D tuần tra phát hiện và phối hợp với anh D bắt giữ Nguyễn Anh M cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Exciter 135, biển số 19S1-028.96, số khung 5P10BY017015, số máy 55P1017015.

Theo Kết luận định giá tài sản số 164/KLĐG – HĐĐGTS ngày 19/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương kết luận như sau: 01 (một) mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Exciter 135, biển số 19S1 028.96, số khung 5P10BY017015, số máy 55P1017015, có trị giá 11.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Exciter 135, biển số 19S1 028.96, số khung 5P10BY017015, số máy 55P1017015 do anh Nguyễn Đức H là chủ sở hữu hợp pháp. Ngày 14/8/2024, anh H giao xe cho anh Vũ Hữu D để sửa chữa thì bị Nguyễn Anh M chiếm đoạt.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản số: 164/KLĐG – HĐĐGTS ngày 19/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Tại cáo trạng số: 359/CT – VKS - DA ngày 27 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Anh M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Anh M với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng: Trả lại cho anh Nguyễn Đức H là chủ sở hữu hợp pháp 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Exciter 135, biển số 19S1 – 028.96, số khung 5P10BY017015, số máy 55P1017015.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh M không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại Cáo trạng số 359/CT – VKS ngày 27/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An xác định tư cách tố tụng ông Vũ Hữu D là bị hại và ông Nguyễn Đức H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát đã xác định lại tư cách tố tụng của ông Nguyễn Đức H là bị hại vì ông H là chủ sở hữu xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Exciter 135, biển số 19S1 – 028.96, ông H chỉ gửi xe cho ông D sửa chữa nên ông Vũ Hữu D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Việc xác định lại tư cách của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án như trên là phù hợp theo quy định tại Điều 62 và Điều 65 Bộ Luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 14/8/2024, tại tiệm S địa chỉ số A N, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương do anh Vũ Hữu D quản lý. Nguyễn Anh M lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Exciter 135, biển số 19S1 – 028.96, số khung 5P10BY017015, số máy 55P1017015 trị giá 11.000.000 đồng của anh Nguyễn Đức H, anh H giao xe cho anh Vũ Hữu D để sửa chữa. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 359/CT – VKS - DA ngày 27 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[7] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha Exciter 135, biển số 19S1 – 028.96, số khung 5P10BY017015, số máy 55P1017015, là tài sản của anh Nguyễn Đức H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe cho anh H là phù hợp;

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo về tội danh, nhân thân của bị cáo, về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 như đại diện Viện kiểm đề nghị thì bị cáo còn có thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng thuộc điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự nên Viện kiểm sát không áp dụng là thiếu sót.

Về mức hình phạt: Xét thấy mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt thấp hơn với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh M 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2024.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Anh M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

- VKSND thành phố Dĩ An (01);

- Công an thành phố Dĩ An (03);

- Chi cục thành phố Dĩ An (01);

- TAND tỉnh Bình Dương (01);

- VKSND tỉnh Bình Dương (01);

- Người tham gia tố tụng (63);

- Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);

- THA hình sự (04);

- UBND xã, phường bị cáo thường trú (03);

- Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương (01);

- Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dương (01);

- Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 332/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 332/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Anh Minh phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger