Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 332/2024/HS-ST

Ngày: 14 – 11 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Chính

2. Ông Nguyễn Hoàng Diệu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 315/2024/TLST–HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 318/2024/QĐXXST – HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quốc Đ (tên gọi khác L1)

Sinh ngày 29 tháng 8 năm 1992; Tại: Đắk Lắk; Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn P và con bà Nguyễn Thị M. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Như Q (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 29/6/2024, chuyển sang tạm giam, hiện đang giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B – Có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn P – Sinh năm 1966

Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc Đ là người sử dụng ma tuý loại Methamphetamine (Còn gọi là ma tuý đá). Qua những người sử dụng ma tuý khác, Đ biết được một người nam giới tên thường gọi là T (Chưa xác định được nhận thần, lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo tên “Lê Mạnh H” bán ma tuý đá. Vào ngày 20/6/2024, Đ sử dụng điện thoại di động, kiểu dáng: SAMSUNG, màu: Vàng đăng nhập vào tài khoản Zalo của Đ có tên “Nỗi Buồn Giăng Kín L2” liên hệ đến tài khoản Zalo tên “Lê Mạnh H” của T1 để hỏi mua 01 (Một) gói ma tuý đá với mục đích sử dụng cho bản thân. T1 đồng ý bán với số tiền 400.000₫ (Bốn trăm ngàn đồng) và hẹn đến hẻm D đường T, phường T, TP B, tỉnh Đắk Lắk để mua bán ma tuý đá. Khoảng 30 phút sau, T1 đến địa điểm hẹn bán cho Đ 01 (Một) gói nylon bên trong chứa ma tuý đá, Đ đưa cho T1 số tiền 400.000₫ (Bốn trăm ngàn đồng). Sau khi mua xong, Đ lấy một phần ma tuý sử dụng và mang gói ma tuý còn lại về chỗ ở tại tổ dân phố G, phường T, TP B, tỉnh Đắk Lắk cất giấu dưới để lồng chim. Đến khoảng 12 giờ 05 phút ngày 29/6/2024, Đ bị triệu tập liên quan đến vụ việc vi phạm pháp luật khác và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T, tỉnh Đắk Lắk 01 (Một) gói ma tuý đá nêu trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Quốc Đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tạm giữ, niêm phong gói ma tuý đá trên của Trần Quốc Đ theo quy định của pháp luật.

– Kết quả xét nghiệm đối với Trần Quốc Đ là dương tính với chất ma túy loại Methamphetamin/Amphetamine.

Tại Bản kết luận giám định số: 970/KL – KTHS ngày 07 tháng 7 năm 2024 của Phòng K – Công an tỉnh Đ kết luận:

Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon máu trắng (túi zip) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1937gam, loại Methamphetamine.

H1 lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1,1545 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

Tại bản cáo trạng số: 323/CT – VKS ngày 15/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố Trần Quốc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của

Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quốc Đ mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1,1545 gam ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong một phong bì số 970/KL – KTHS ngày 07/7/2024 của Phòng K – Công an tỉnh Đ ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Trần Quốc Đ – BMT”, có các chữ ký ghi tên : Nguyễn Anh T2, Nguyễn Bá H1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K – Công an tỉnh Đ; 01 (một) lồng chim bằng nan tre, lồng tròn, đường kính 40cm, không có giá trị, Trần Quốc Đ sử dụng để cất giấu ma túy.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, kiểu dáng Samsung, màu vàng, số Imei: 353185440552604/01, không gắn sim, của Trần Quốc Đ sử dụng vào hành vi phạm tội.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo: Vào ngày 29/6/2024 tại địa bàn phường T, thành phố B T có hành vi cất giấu 1,1937 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang và tạm giữ.

Tại các biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng cho việc nghiện hút của bản thân.

Do đó hành vi của bị cáo Trần Quốc Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm, gây mất trật tự trị an trong xã hội. Chất ma túy là chất kích thích gây nghiện, hành vi tự ý tàng trữ chất ma túy đã xâm phạm đến việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Song do bị cáo là người nghiện ma túy và để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Trần Quốc Đ theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, cần buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ nghiêm mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo từ bỏ ma túy cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.

[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Đ là người chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của nhà nước ta.

[2.3] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Quốc Đ, Công an thành phố B lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo theo Nghị định 144/2021/NĐ – CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.

Đối với nguồn gốc chất ma tuý trong vụ án, bị cáo Trần Quốc Đ khai nhận mua được của người nam giới tên thường gọi là T1 sử dụng tài khoản Zalo tên “Lê Mạnh H”. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân

thân, lai lịch của đối tượng này. Nên tách hành vi của đối tượng trên ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với ông Trần Văn P; sinh năm: 1966; trú tại: Tổ dân phố G, phường T, TP B, tỉnh Đắk Lắk (Bố ruột của bị cáo Trần Quốc Đ), là chủ sở hữu căn nhà, đất tại địa chỉ tổ dân phố G, phường T, TP B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình điều tra xác định, ông P không biết bị cáo Trần Quốc Đ cất giấu, tàng trữ trái phép chất ma tuý tại căn nhà nêu trên, không đồng phạm với bị cáo Đ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T không đề cập xử lý đối với ông Trần Văn P.

[2.4] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1,1545 gam ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong một phong bì số 970/KL – KTHS ngày 07/7/2024 của Phòng K – Công an tỉnh Đ ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Trần Quốc Đ – BMT”, có các chữ ký ghi tên : Nguyễn Anh T2, Nguyễn Bá H1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K – Công an tỉnh Đ; 01 (một) lồng chim bằng nan tre, lồng tròn, đường kính 40cm, không có giá trị, Trần Quốc Đ sử dụng để cất giấu ma túy.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, kiểu dáng Samsung, màu vàng, số Imei: 353185440552604/01, không gắn sim, của Trần Quốc Đ sử dụng vào hành vi phạm tội.

[2.5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc Đ 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt (ngày 29/6/2024).

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1,1545 gam ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong một phong bì số 970/KL – KTHS ngày 07/7/2024 của Phòng K – Công an tỉnh Đ ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Trần Quốc Đ – BMT”, có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Anh T2, Nguyễn Bá H1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K – Công an tỉnh Đ; 01 (một) lồng chim bằng nan tre, lồng tròn, đường kính 40cm, không có giá trị, Trần Quốc Đ sử dụng để cất giấu ma túy.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, kiểu dáng Samsung, màu vàng, số Imei: 353185440552604/01, không gắn sim, của Trần Quốc Đ sử dụng vào hành vi phạm tội.

(Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố B và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Quốc Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • – Vụ GĐKT 1 – TAND TC;
  • – TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • – VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • – VKSND Tp. Buôn Ma Thuột;
  • – Công an Tp. Buôn Ma Thuột;
  • – Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • – Chi cục THADS Tp. Buôn Ma Thuột;
  • – Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • – Bị cáo, các đương sự;
  • – Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 332/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 332/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tràn Quốc Đ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger