TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số 332/2024/HSST Ngày 04/11/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy;
Các hội thẩm nhân dân:
1- Bà Hoàng Thị Xuân Hường- nguyên giáo viên Trường THCS Phan Đình Giọt, Hà Nội.
2- Ông Nguyễn Văn Thư- nguyên giảng viên Trường Đại học Hà Nội.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga- Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu H, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 320/TLST-HS ngày 14/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1977; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Tham gia đoàn thể, Đảng: Không; Con ông: Nguyễn Đình H2 (đã chết); Con bà: Lưu Thị N, sinh năm 1952; A, chị, em ruột: Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con cả; Vợ: Trần Thị B, sinh năm 1979; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh 2004.
Tiền án, tiền sự: Không.
D chỉ bản số 555, lập ngày 30/6/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Anh Cao Quốc H3, sinh ngày 16/9/2007; Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện N, Nghệ An.
- Anh Nguyễn Minh L, sinh ngày 29/6/2007; Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Anh Đinh Quốc B1, sinh ngày 06/7/2007; Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thu H4- Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản H7 phường N, quận Đ, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H1 làm công việc vệ sinh công trường. Ngày 19/6/2024, thông qua Công ty trách nhiệm hữu hạn Q (địa chỉ trụ sở tại: Số nhà F, phố K, quận C, Hà Nội), H1 thuê 07 lao động gồm các anh, chị sau: Anh Cao Quốc H3, anh Nguyễn Minh L và anh Đinh Quốc B1 với giá môi giới là 3.100.000 đồng và chị Lò Thị H5 (sinh ngày 28/8/2008; Trú tại Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La), chị Lò Thị X (sinh ngày 16/3/2008; Trú tại Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La); chị Lò Thị P (sinh ngày 01/6/2009; Trú tại Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La) và chị Lò Thị P1 (sinh ngày 07/6/2006; Trú tại Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La) với giá môi giới là 5.500.000 đồng. Sau đó, H1 đưa những người này về cho ăn ở tại phòng 405 nhà nghỉ V (Địa chỉ tại số nhà B đường L, phường N, quận Đ, Hà Nội). Khi nhận 04 lao động nữ gồm chị H5, X, P2, P1; H1 nhận của người đàn ông lái xe ôm 04 chiếc điện thoại của 04 chị trên. Tại phòng 405 nhà nghỉ V, H1 thu lại căn cước công dân của các anh L, anh H3, anh B1, chị X và chị P, còn chị H5 và chị P1 gửi ảnh căn cước cho H1. Để thanh toán tiền môi giới H1 đều dùng tài khoản số 2167040102408 Ngân hàng P3, chủ tài khoản NGUYEN VAN HUAN chuyển khoản đến tài khoản số 0011001157180 Ngân hàng V1, chủ tài khoản VU TIEN DOAN. Chiều ngày 19/6/2024, H1 cho các anh H3, anh L, anh B1 đến công trường số I đường L, phường N, quận Đ, Hà Nội để làm công việc bê vác thanh sắt, vật liệu xây dựng, đến chiều tối cùng ngày H1 cho về nghỉ tại phòng trọ. Do công việc nặng nhọc, không phù hợp với sức khỏe nên khoảng 05giờ 30phút ngày 20/6/2024, các anh H3, anh L và anh B1 xuống vỉa hè tầng 1 trước cửa nhà nghỉ V2 đón xe rời đi. Lúc này, H1 ngủ dậy không thấy các anh L, H3, B1 đâu nên bảo Lò Thị C (sinh năm 1983; Trú tại Bản B, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái- là người nấu cơm phục vụ cho nhóm thợ của H1) xuống dưới tìm. Một lúc sau, C gọi điện cho H1 nói: “Chúng nó định trốn” thì H1 chạy xuống. Khi H1 xuống vỉa hè tầng 1 đối diện nhà nghỉ V, anh L nói với H1 cho xin nghỉ do công việc nặng nhọc không phù hợp, thấy vậy H1 nói: “Chúng mày không làm được thì liên hệ lại bên môi giới, tao chuộc chúng mày về để người ta còn đổi người cho tao”. Lúc này, H1 thấy trên tay anh L, H3 cầm điện thoại nên đã lấy chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr màu đỏ của anh L và chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu vàng của anh H3 bỏ vào túi quần bên trái đang mặc của H1. Còn anh B1 nói điện thoại đang sạc trên phòng nên H1 bảo C lên phòng tìm điện thoại của anh B1 nhưng không tìm thấy. Khi thấy anh H3, L định lấy lại điện thoại thì H1 chửi bới và yêu cầu anh H3, L, B1 phải liên hệ bên môi giới trả lại tiền cho H1 thì H1 sẽ trả lại điện thoại. Do anh B1 không gọi điện được cho bên môi giới nên H1 yêu cầu các anh L, B1, H3 liên hệ về gia đình yêu cầu mang số tiền 1.500.000 đồng/1 người (tổng 3 người là 4.500.000 đồng) đến chuộc thì H1 sẽ trả lại điện thoại và cho nghỉ việc. Lúc này,
Tống Văn A (Sinh năm 1995; Trú tại thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa- là công nhân của H1) đi xuống, H1 chỉ vào mặt H3 và nói với Văn A: “Thằng này định bật anh này”, thấy vậy H3 không dám đòi lại điện thoại nữa. Sau đó, H1 và Văn A đi làm đồng thời H1 bảo C đưa H3, L, B1 lên phòng. Một lúc sau, H1 gọi điện về cho C hỏi tình hình thì C nói anh L, H3, B1 đang dọn quần áo định bỏ đi nên H1 yêu cầu C mở loa ngoài để cho anh L, H3, B1 nghe thấy, rồi H1 nói: “Tao cho người trông cổng nhà nghỉ rồi, thằng nào trốn xuống tao cho người chặt chân” với mục đích đe dọa làm các anh L, H3 và B1 sợ và không dám bỏ đi. Do bị H1 đe dọa nên các anh H3, L và B1 không dám tự ý bỏ đi mà đi ra quán trà đá gần nhà nghỉ ngồi uống nước đợi H1 về giải quyết. Khi đang ngồi uống nước thì chị Lò Thị H5, Lò Thị X, Lò Thị P và Lò Thị P1 đi qua dừng lại nói chuyện. Lúc này, các anh H3, L và B1 biết các chị Lò Thị H5, Lò Thị X, Lò Thị P và Lò Thị P1 cũng đang không muốn làm việc cho H1 nữa do công việc nặng nhọc không phù hợp, nhưng do H1 đang giữ điện thoại nên chưa về được. Sau đó, tất cả mọi người cùng đến Công an phường N trình báo sự việc.
Đến 20giờ ngày 20/6/2024, Nguyễn Văn H1 đến trụ sở Công an phường N đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Huấn khai mục đích giữ lại 02 chiếc điện thoại của các anh L và H3, đồng thời có lời lẽ đe dọa để các anh L, H3 và B1 không dám bỏ trốn mà phải liên hệ về gia đình mang số tiền 4.500.000 đồng (là tiền H1 đã trả cho Công ty M) để trả lại cho H1.
Đối với việc giữ 04 chiếc điện thoại của Lò Thị H5, Lò Thị X, Lò Thị P và Lò Thị P1. H1 khai, khi được bên môi giới giao người lao động thì H1 được đưa lại cho 04 chiếc điện thoại. Sau đó, chị H5, X, P, P1 xin nghỉ việc do công việc không phù hợp nhưng H1 không đồng ý và yêu cầu chị H5, X, P, P1 phải trả cho H1 số tiền 1.500.000 đồng/người (là tiền H1 đã phải trả cho bên môi giới) thì mới cho chị H5, X, P, P1 về. H1 khai mục đích giữ điện thoại và giấy tờ cá nhân của chị H5, X, P, P1 để giữ các chị ở lại làm việc. Huấn không có hành vi giam giữ, đe dọa hay đánh đập đối với H5, X, P, P1.
Đối với Lò Thị C, khi thực hiện hành vi phạm tội thì H1 không có thỏa thuận hay bàn bạc gì với C về việc thực hiện hay ăn chia trong việc đe dọa các anh H3, L, B1 để lấy số tiền 4.500.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, các chị Lò Thị H5, Lò Thị X, Lò Thị P và Lò Thị P1 khai: Các chị H5, X, P, P1 nghĩ mục đích Nguyễn Văn H1 giữ 04 chiếc điện thoại để giữ các chị ở lại làm việc do các chị xin nghỉ không muốn làm việc cho H1. Trong quá trình ở tại phòng 405 nhà nghỉ V, các chị H5, X, P, P1 không bị H1 đánh đập, gây thương tích cũng không bị giam giữ. Các chị H5, X, P, P1 khai khi xin nghỉ việc H1 không đồng ý và dọa sẽ bán đi nơi khác, tuy nhiên các chị không bị ảnh hưởng đến tinh thần hay tính mạng.
Anh Vũ Duy H6 (sinh năm 1987; Trú tại xóm H, huyện N, thị xã T, tỉnh Nghệ An- là Giám đốc Công ty TNHH Q) khai: Ngày 19/6/2024, Công ty của anh H6 có nhận 07 lao động gồm 03 nam và 04 nữ có nhu cầu tìm việc làm. Sau đó, có 01 nhân viên tên U (chưa xác định) là cộng tác viên với phía Công ty anh Hải giới T cho Nguyễn Văn H1 đang cần lao động. Anh H6 giao cho U thỏa thuận với H1 phí môi giới là 1.000.000 đồng/1 người. Giữa U và H1 có thỏa thuận gì không anh H6 không rõ. Do U là cộng tác viên không phải nhân viên chính thức nên anh H6 không cung cấp được thông tin hồ sơ liên quan đến Uy.
Đối với Lò Thị C, tại Cơ quan điều tra C khai: Căn được Nguyễn Văn H1 thuê nấu cơm cho công nhân làm thuê cho H1, C sinh hoạt ăn ở tại phòng 405 nhà nghỉ V. Ngoài việc nấu cơm, H1 còn yêu cầu C để ý nhóm thợ của H1 nếu ai đi ra ngoài phải báo lại cho H1. Do nhiều lần không chú ý thợ đi ra ngoài nên C đã bị H1 chửi bới và trừ tiền lương. Sáng ngày 20/6/2024, khi C phát hiện 03 lao động nam đi ra ngoài thì C đã gọi điện báo cho H1. Căn không biết việc H1 yêu cầu L, H3, B1 phải đưa số tiền cho H1 thì mới cho về. Căn không được H1 bàn bạc, phân công hay hứa hẹn chia lợi ích gì về việc đòi tiền của L, H3, B1. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn H1 giữ 04 chiếc điện thoại cùng giấy tờ tùy thân của các chị H5, X, P, P1 do bên Công ty M chuyển lại khi H1 nhận lao động, với mục đích là để giữ người lao động lại làm việc. Khi các chị H5, X, P, P1 muốn nghỉ làm do công việc không phù hợp và xin lại tài sản thì H1 không có hành vi đánh đập, giam giữ hay đe dọa đối với 04 chị để đòi tiền. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H1 về tội cưỡng đoạt tài sản là có căn cứ.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Văn H1 những đồ vật, tài sản gồm:
- 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno4 màu vàng đen; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo 1811 màu xanh, lắp ốp sáng màu; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh; 01 điện thoại Samsung Galaxy A05s màu xanh; 01 điện thoại Vivo màu xanh đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone Xr màu đỏ có ốp lưng bằng nhựa màu đen; 01 điện thoại Iphone 12 Promax có ốp lưng bằng nhựa màu đỏ có chữ màu trắng.
- 05 căn cước công dân mang tên: Nguyễn Minh L số [...], Đinh Quốc B1 có số [...], Cao Quốc H3 có số [...], Lò Thị X có số [...], Lò Thị P có số [...].
- 07 tờ giấy có tiêu đề “Hợp đồng lao động” có tên của người lao động Cao Quốc H3, Đinh Quốc B1, Nguyễn Minh L, Lò Thị P, Lò Thị X, Lò Thị P1, Lò Thị H5.
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo 1811 màu xanh, lắp ốp màu sáng, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của chị Lò Thị P; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của chị Lò Thị X, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A05s màu xanh là tài sản của chị Lò Thị P1; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo màu xanh là tài sản hợp pháp của chị Lò Thị H5 và 02 căn cước công dân mang tên Lò Thị X và Lò Thị P. Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr màu đỏ là tài sản của Nguyễn Minh L; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu vàng là tài sản của Cao Quốc H3 và 03 căn cước công dân mang tên Nguyễn Minh L, Đinh Quốc B1 và Cao Quốc H3. Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Tại Bản cáo trạng số 326/CT-VKSĐĐ, ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Nguyễn Văn H1 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại Oppo Reno4 màu vàng đen thu giữ của Nguyễn Văn H1.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, các bị hại, người đại diện.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, các bị hại, người đại diện không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những căn cứ xác định tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai các bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Ngày 19/6/2024, thông qua Công ty trách nhiệm hữu hạn Q, Nguyễn Văn H1 đã trả chi phí môi giới là 3.100.000 đồng để tìm công nhân lao động gồm các anh: Nguyễn Minh L, Cao Quốc H3 và Đinh Quốc B1. Do công việc nặng nhọc, không phù hợp nên các anh L, H3 và B1 muốn xin nghỉ làm nhưng H1 không đồng ý.
Đến ngày 20/6/2024, tại khu vực nhà nghỉ V số B đường L, phường N, quận Đ, Hà Nội, Nguyễn Văn H1 đã có hành vi lấy giữ 02 chiếc điện thoại (gồm 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr màu đỏ của Nguyễn Minh L; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu vàng của Cao Quốc H3) và có lời lẽ đe dọa các anh Nguyễn Minh L, anh Cao Quốc H3 và anh Đinh Quốc B1 để các anh L, H3, B1 lo sợ, không dám bỏ trốn và phải liên hệ gia đình xin tiền chuộc mục đích để chiếm đoạt được số tiền 4.500.0000 đồng của các anh L, H3, B1 là số tiền mà H1 cho rằng đã trả cho bên môi giới để thuê được anh L, H3, B1 làm công nhân.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 170 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định; vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét.
[8] Về vật chứng: 01 điện thoại Oppo Reno4 màu vàng đen thu giữ của Nguyễn Văn H1 có liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung công.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Văn H1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
1- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2024.
* Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền đối với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Không.
2- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu xanh có ốp màu vàng-đen, Imei 1: 860577044887293, I: 860577044887285, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy và nội dung bên trong.
Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 37 ngày 01/11/2024 của Cơ quan điều tra Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa.
3- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại, người đại diện vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thúy |
Bản án số 332/2024/HSST ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 332/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huấn Cưỡng đoạt
