Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 332/2024/DS-ST

Ngày: 28/9/2024

V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Hứng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
  2. Bà Nguyễn Thị Mai Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Mỵ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 509/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 676/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1952.

Đăng ký thường trú: Thôn L, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Địa chỉ liên lạc: Số I, đường N, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Ngọc H1, sinh năm 2000 (Đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số B, đường T, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Theo giấy ủy quyền ngày 18/7/2024).

- Bị đơn: Bà Huỳnh Mỹ N, sinh năm 1974 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số A, đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc H1 trình bày: Năm 2019, bà Huỳnh Mỹ N có hỏi vay tiền bà Ngô Thị H, do quen biết cũng như tin tưởng bà N nên bà Hòa đồng Ý cho vay, lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng. Ngày 04/7/2019, bà Ngô Thị H chuyển khoản cho bà Huỳnh Mỹ N số tiền 280.000.000 đồng. Tuy nhiên, từ ngày nhận được tiền vay đến nay bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi theo thỏa thuận. Thời gian đầu bà H còn liên lạc được với bà N thì bà N hứa sẽ trả nợ nhưng thời gian sau bà N cắt liên lạc, không trả nợ vay cho bà H.

Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Huỳnh Mỹ N trả cho bà Ngô Thị H số tiền gốc đã vay là 280.000.000 đồng và tiền lãi 20%/năm, tạm tính từ ngày 04/7/2019 đến ngày 04/7/2024 (05 năm) với tổng số tiền là 560.000.000 đồng. Đồng thời, yêu cầu tiếp tục tính lãi 20%/năm đối với số tiền nợ gốc 280.000.000 đồng cho đến khi bà Huỳnh Mỹ N hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ.

- Bị đơn bà Huỳnh Mỹ N được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không rõ ý kiến.

Đồng thời, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc H1 có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Bà Ngô Thị H khởi kiện yêu cầu buộc bà Huỳnh Mỹ N trả lại số tiền vay 280.000.000 đồng và lãi suất 20%/năm tính từ ngày 04/7/2019 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc H1 có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn bà Huỳnh Mỹ N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng

xét xử tiến hành giải quyết vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Xét trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Huỳnh Mỹ N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không thực hiện nghĩa vụ tham gia tố tụng theo triệu tập của Tòa án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình nên được xem là từ bỏ quyền tranh tụng cũng như những quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ theo Điều 6, Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ làm cơ sở để giải quyết vụ án.

[3.2] Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 26/9/2024 của người đại theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng, năm 2019 bà Huỳnh Mỹ N có vay tiền của bà Ngô Thị H để đầu tư kinh doanh là sự thật, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng. Tuy nhiên, do mối quan hệ quen biết nên các bên không có lập thành văn bản mà chỉ giao kết với nhau bằng lời nói. Trong quá trình thực hiện hợp đồng do bà N không trả lãi nên giữa năm 2020 bà H có yêu cầu bà N viết cam kết trả nợ gốc, kèm với số tiền lãi phát sinh từ năm 2019 đến giữa năm 2020. Do thời gian đã lâu bà H đã làm thất lạc giấy tờ cam kết trả nợ của bà N lập vào giữa năm 2020 nên không thể cung cấp cho Tòa án. Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc vay tài sản chỉ còn Ủy nhiệm chi ngày 04/7/2019. Vì vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Huỳnh Mỹ N trả cho bà Ngô Thị H số tiền gốc là 280.000.000 đồng và tiền lãi 20%/năm tính từ ngày 04/7/2019 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

[3.3] Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ bản chính Ủy nhiệm chi ngày 04/7/2019 của Ngân hàng TMCP Á (gọi tắt A) thể hiện bà Ngô Thị H chuyển khoản số tiền 280.000.000 đồng từ tài khoản 115724829 của A – Chi nhánh B đến số tài khoản 6784227 của A – Chi nhánh C, chủ tài khoản là bà Huỳnh Mỹ N với nội dung “CHUYỂN TIỀN”. Do đó, có cơ sở để xác định ngày 04/7/2019 bà Ngô Thị H có chuyển khoản cho bà Huỳnh Mỹ N số tiền 280.000.000 đồng. Tuy nhiên, việc nguyên đơn cho rằng số tiền chuyển khoản cho bà Huỳnh Mỹ N là tiền vay với lãi suất 3%/tháng là chưa đủ cơ sở. Bởi lẽ, nguyên đơn không cung cấp được giấy xác nhận nợ vay cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện giao dịch giữa các bên là vay tiền. Do đó, chỉ có căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên

đơn là đòi lại tài sản với số tiền 280.000.000 đồng nên không chấp nhận yêu cầu tính lãi suất 20%/năm của bà Ngô Thị H.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ án phí phải chịu đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 6, Điều 24, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 3 Điều 40, Điều 105, Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 277, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị H.

    - Buộc bị đơn bà Huỳnh Mỹ N trả cho nguyên đơn bà Ngô Thị H số tiền 280.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi triệu đồng).

    Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. 2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị H về việc buộc bị đơn bà Huỳnh Mỹ N trả lãi 20%/năm tính từ ngày 04/7/2019 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
  3. 3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Nguyên đơn bà Ngô Thị H được miễn nộp toàn bộ án phí phải chịu.

    - Bị đơn bà Huỳnh Mỹ N phải chịu 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).

  4. 4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng

cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q.NK;
  • - Chi cục THADS Q.NK;
  • - TAND TP.CT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Hứng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 332/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 332/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger