TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 332/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/8/2024 “V/v: T/c Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Khanh
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Kiều Xuân Mai
Ông Trần Văn Khánh
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Đạo- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 49/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024, về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đỗ Đức V, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn Ấ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. (có mặt)
- Bị đơn: Chị Phạm Thị O, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Thôn Á, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Đỗ Đức V trình bày: Anh và chị O kết hôn vào ngày 18/11/2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M. Trước khi kết hôn anh chị có được tự do tìm hiểu. Sau khi cưới anh chị chung sống ttại gia đình nhà chị O ở thôn Á, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên xảy ra cãi nhau do anh ở rể nên chị O và gia đình không tôn trọng, nhiều lần có những lời nói, hành động xúc phạm đến anh và gia đình anh. Đến khoảng tháng 5/2023 anh có trao đổi với chị O để vợ chồng dọn sang huyện S sinh sống nhưng chị O không đồng ý. Từ khoảng tháng 12/2023 anh đã đi khỏi xã T nên không ở cùng chị O và con nữa. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh xin được ly hôn với chị O.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Đỗ Trung H, sinh ngày 30/8/2008. Hiện tại, cháu H đang ở cùng với chị O, do hiện nay nơi ở của anh chưa ổn định, nên anh để chị O là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu H. Anh xin tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng cho đến khi cháu H thành niên đủ 18 tuổi, hình thức đóng góp thực hiện hàng tháng. Hiện nay anh đang làm nhân viên sản xuất tại công ty S ở KCN Q, tỉnh Bắc Ninh, mức lương hàng tháng khoảng 13.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, đất ở, đất canh tác, công sức, công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn chị Phạm Thị O có đơn xin vắng mặt, nhưng quá trình giải quyết vụ án, chị có ý kiến: Chị xác nhận về thời gian, điều kiện kết hôn như anh V đã trình bày. Sau khi cưới chị và anh V sống tại gia đình chị, vợ chồng ở riêng trên đất của gia đình chị. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì anh V đi khỏi nhà không nói gì với chị, chị có liên lạc nhưng anh V không trả lời. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2023 đến nay. Nay anh V xin ly hôn, chị không đồng ý vì chị vẫn còn tình cảm với anh và chị không muốn ảnh hưởng đến con. Ngoài ra việc anh V xin ly hôn với chị là do tác động của bên ngoài, còn chị và anh V không có mâu thuẫn gì với nhau. Bản thân anh V muốn ly hôn với chị do anh V có người phụ nữ khác nhưng chị không có tài liệu chứng cứ chứng minh.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 01 con chung như anh V trình bày. Nếu ly hôn chị xin được nuôi con chung còn việc đóng góp là tùy anh V, chị không yêu cầu anh V phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, đất ở, đất canh tác, công sức, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh: Không tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị O đang sinh sống tại Thôn Ấ, xã T, huyện M, TP .. Anh V có đơn xin ly hôn chị O, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn chị Phạm Thị O vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị là đúng quy định.
[2]- Về nội dung vụ án: Anh Đỗ Đức V và chị Phạm Thị O kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2007 tại UBND xã T, huyện M, Hà Nội, đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo anh V xác định mâu thuẫn vợ chồng do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp tính cách và do khác biệt lối sống nên vợ chồng thường xuyên to tiếng, cãi nhau. Từ khoảng tháng 12/2023 do vợ chồng mâu thuẫn với nhau nên anh V đã không ở chung cùng chị O và con chung nữa, vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ đó cho đến nay. Chị O không muốn ly hôn vì không muốn làm ảnh hưởng đến các con. Anh V xác định không còn tình cảm với chị O xin được ly hôn. Chị O không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có biện pháp nào hằn gắn tình cảm vợ chồng. Anh chị đã sống ly thân với nhau từ tháng 12/2023 cho đến nay, hiện nay không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Như vậy mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh V là phù hợp với quy định.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Đỗ Trung H, sinh ngày 30/8/2008. Hiện nay con chung đang ở cùng với chị O. Ly hôn, chị O có nguyện vọng xin nuôi con chung. Anh V cũng đồng ý để chị O nuôi con chung, nên ghi nhận sự thỏa thuận của anh chị.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị O không yêu cầu anh V phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng (ba triệu đồng/tháng, nên cần xem xét ghi nhận.
Về tài sản chung, công sức, công nợ: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
[3]- Về án phí: Anh V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, 271, 273, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Đỗ Đức V.
- Về con chung: Xác định anh chị có 01 con chung là Đỗ Trung H, sinh ngày 30/8/2008. Ly hôn giao cháu H cho chị Phạm Thị O tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, công sức, công nợ: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu giải quyết của anh V, chị O.
- Án phí: Anh V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung được trừ vào số tiền 5.000.000₫ anh V đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0008449 ngày 21/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh, Hà Nội. Hoàn trả anh Đỗ Đức V số tiền 4.400.000đ.
Cho anh Đỗ Đức V được ly hôn chị Phạm Thị O.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của anh Đỗ Đức V với số tiền 3.000.000 đồng/tháng hình thức đóng góp thực hiện hàng tháng, thời điểm đóng góp kể từ tháng 9/2024.
Anh V có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Anh V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị O có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Quang Khanh |
Bản án số 332/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 332/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh V xin ly hôn chị O
