|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 332/2024/HS-PT
Ngày 12 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;
Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang;
Ông Đinh Quốc Trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Bà Giang Thị Ánh Tuyết, Kiểm sát viên.
Ngày 12/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 251/2024/TLPT-HS ngày 5/3/2024 do có kháng cáo của các bị cáo Đỗ Thị T và Chu Văn Th đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Đỗ Thị T, sinh năm 1984. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn H, xã V, huyện C, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học phổ thông: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đỗ Hữu A và con bà Đỗ Thị B; Chồng: Nguyễn Văn E (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, sinh năm 2004 và 2006; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 06/8/2023 đến ngày 15/8/2023 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn (vắng mặt).
2. Chu Văn Th, sinh năm 1984; ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn N, xã V, huyện C, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học phổ thông: 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Chu Văn D và con bà Dương Thị Đ; Vợ: Nguyễn Thị U; Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 24/6/2022 bị Công an huyện C, Thành phố Hà Nội xử phạt hành chính 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích (nộp phạt ngày 22/12/2023).
- Ngày 11/01/2011 bị Tòa án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù giam về tội cướp tài sản.
- Ngày 29/2/2020 bị công an huyện O, Thành phố Hà Nội xử phạt hành chính 3.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 14/8/2023 đến ngày 23/8/2023 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn (có mặt).
Vụ án còn có 09 bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ với các đối tượng hay đánh cờ bạc nên vào sáng ngày 06/8/2023, bị cáo T đã gọi điện, rủ rê các con bạc đến nhà mình đánh bạc đồng thời thuê Phạm Văn Q canh gác, cảnh giới với giá 100.000 đồng/1 ca đánh bạc. Khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, những người đến nhà T đánh bạc gồm có: Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Y, Lê Đăng L, Chu Văn Th, Đỗ Văn K, Đỗ Thị X, Trịnh Thị P, Phan Thị N, Phạm Thị M, Nguyễn Thị S. T lấy quân bài chắn để cắt 04 quân vị đồng thời lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ làm dụng cụ đánh bạc. Bị cáo T thu phế của các con bạc gồm: H, Y, L, X, P, N, M (mỗi con bạc 50.000 đồng) được 350.000 đồng. Lúc này Nguyễn Thị H xóc cái và tham gia đánh bạc cùng các con bạc thì bị cáo T sử dụng 350.000 đồng tiền phế thu được để đánh bạc. Bị cáo T tham gia đánh 02 ván bạc thì bị thua hết tiền phế còn 50.000 đồng giữ trong người và đi ra ngoài hiên nhà để cảnh giới cho các đối tượng đánh bạc. Trong khi mọi người đánh bạc, bị cáo T phân công Q đứng cách cổng nhà bị cáo T khoảng 600 mét canh gác, nếu có xe ô tô đi vào làng thì báo cho bị cáo T biết. Quá trình đánh bạc, Nguyễn Thị H đứng lên đi vệ sinh thì Lê Đăng L vào xóc cái thay để mọi người tham gia đánh bạc.
Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày trong lúc mọi người đang tham gia đánh bạc Q thấy 02 xe ô tô đi đến nên gọi điện báo cho bị cáo T biết. Sau đó, tất cả bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng và đưa về trụ sở để làm việc.
Quá trình lực lượng Công an bắt quả tang L, K, Th lợi dụng sơ hở bỏ chạy thoát còn Q sau khi báo cho bị cáo T cũng bỏ trốn khỏi địa phương nơi cư trú.
Đến ngày 14/8/2023, 17/08/2023 các bị cáo Lê Đăng L, Chu Văn Th và Đỗ Văn K nhận thức được hành vi tham gia đánh bạc của bản thân là vi phạm pháp luật nên đã đến cơ quan Công an huyện C xin đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Ngày 21/11/2023, Phạm Văn Q đã bị bắt theo Lệnh bắt bị cáo để tạm giam của Công an huyện C, sau khi bị bắt Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Vật chứng thu giữ:
- 04 quân vị hình tròn; 01 đĩa men sứ; 01 bát men sứ; 01 chiếu cói.
- Số tiền thu giữ tại chiếu bạc này là 14.650.000 đồng.
- Số tiền 2.060.000 đồng do các đối tượng giao nộp (trong đó: Chu Văn Th giao nộp 720.000 đồng; Lê Đăng L giao nộp 700.000 đồng; Đỗ Văn K giao nộp 640.000 đồng.)
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Bị cáo Đỗ Thị T: Bị cáo T là chủ nhà đã gọi điện rủ rê mọi người đến nhà mình đánh bạc, phân công Phạm Văn Q canh gác và thỏa thuận trả công 100.000đồng/canh bạc, thu tiền hồ phế được 350.000 đồng. T cũng là người chuẩn bị 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, cắt 04 quân vị làm dụng cụ cho mọi người đánh bạc. Ngoài ra, T cũng tham gia đánh bạc cùng những người khác, T có 350.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc, T đánh bạc bị thua còn 50.000 đồng. Khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, T hoảng sợ nên đã vứt số tiền 50.000 đồng xuống chiếu.
Bị cáo Phạm Văn Q: Bị cáo Q được bị cáo Đỗ Thị T thuê với giá 100.000 đồng/canh bạc để canh gác, cảnh giới cho mọi người đánh bạc, khi thấy có 02 xe ô tô đi vào làng bị cáo Q đã gọi điện thoại báo cho bị cáo T biết. Bị cáo Q chưa kịp nhận tiền công thì bị cáo T và những người đánh bạc bị bắt quả tang. Sau đó, bị cáo Q bỏ trốn khỏi địa phương và bị bắt theo Lệnh bắt tạm giam.
Bị cáo Nguyễn Thị H: H là người xóc cái cho mọi người đánh bạc, không được ai phân công. Khi tham gia đánh bạc có số tiền 7.000.000 đồng, bị cáo nộp 50.000 đồng tiền hồ phế cho bị cáo T, còn lại sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bị lực lượng công an bắt quả tang, H hoảng sợ nên đã bỏ toàn bộ tiền trên tay xuống chiếu, không rõ thắng thua.
Bị cáo Lê Đăng L: Bị cáo L là người xóc cái thay cho H khi H đứng dậy đi vệ sinh. Có số tiền 2.050.000 đồng nộp 50.000 đồng tiền hồ phế cho bị cáo T, còn lại sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị lực lượng công an bắt quả tang, bị cáo hoảng sợ nên đã bỏ chạy thoát. Khi đầu thú, bị cáo đã giao nộp số tiền 700.000 đồng còn lại sau khi đánh bạc cầm theo bỏ chạy.
Bị cáo Nguyễn Thị Y: Khi tham gia đánh bạc, bị cáo có số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo nộp 50.000 đồng tiền hồ phế cho T, còn lại sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị lực lượng công an bắt quả tang, bị cáo hoảng sợ nên đã bỏ toàn bộ tiền trên tay xuống chiếu, không rõ thắng thua.
Bị cáo Chu Văn Th: Khi tham gia đánh bạc, bị cáo có số tiền 1.600.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị lực lượng công an bắt quả tang, bị cáo hoảng sợ nên đã bỏ chạy thoát. Khi đầu thú, bị cáo đã giao nộp số tiền 720.000 đồng còn lại sau khi đánh bạc cầm theo bỏ chạy.
Bị cáo Đỗ Văn K: Khi tham gia đánh bạc, bị cáo có số tiền 1.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị lực lượng công an bắt quả tang, bị cáo hoảng sợ nên đã bỏ chạy thoát. Khi đầu thú, bị cáo đã giao nộp số tiền 640.000 đồng còn lại sau khi đánh bạc cầm theo bỏ chạy.
Bị cáo Đỗ Thị X: Khi tham gia đánh bạc, bị cáo có số tiền 800.000 đồng, bị cáo nộp 50.000 đồng tiền hồ phế cho bị cáo T, còn lại sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bị lực lượng công an bắt quả tang, bị cáo hoảng sợ nên đã bỏ toàn bộ tiền trên tay xuống chiếu, không rõ thắng thua.
Bị cáo Trịnh Thị P: Khi tham gia đánh bạc có số tiền 560.000 đồng, nộp 50.000 đồng tiền hồ phế cho bị cáo T, còn lại sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bị lực lượng công an bắt quả tang, bị cáo hoảng sợ nên đã bỏ toàn bộ tiền trên tay xuống chiếu, không rõ thắng thua.
Bị cáo Phan Thị N: Khi tham gia đánh bạc có số tiền 400.000 đồng, N cho Nguyễn Thị S vay 200.000 đồng nộp 50.000 đồng tiền hồ phế cho bị cáo T, còn lại sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bị lực lượng công an bắt quả tang, bị cáo hoảng sợ nên đã bỏ toàn bộ tiền trên tay xuống chiếu, không rõ thắng thua.
Bị cáo Phạm Thị M: Khi tham gia đánh bạc, có số tiền 300.000 đồng, nộp 50.000 đồng tiền hồ phế cho bị cáo T, còn lại sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bị lực lượng công an bắt quả tang, hoảng sợ nên đã bỏ toàn bộ tiền trên tay xuống chiếu, không rõ thắng thua.
Bị cáo Nguyễn Thị S: Khi tham gia đánh bạc không mang theo tiền nên đã vay Phan Thị N số tiền 200.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bị lực lượng công an bắt quả tang, bị cáo hoảng sợ nên đã bỏ toàn bộ tiền trên tay xuống chiếu, không rõ thắng thua.
Quá trình điều tra thu thập chứng cứ vụ án, có đủ cơ sở xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 16.710.000đ. Tại Cơ quan điều tra Công an huyện C, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 189/CT-VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đỗ Thị T tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 và tội “Tổ chức đánh bạc” theo các điểm a, b, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; bị cáo Phạm Văn Q tội “Tổ chức bạc” theo các điểm a, b, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Nguyễn Thị H, Lê Đăng L, Nguyễn Thị Y, Chu Văn Th, Đỗ Văn K, Đỗ Thị X, Trịnh Thị P, Phan Thị N, Phạm Thị M, Nguyễn Thị S tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hà Nội quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo Nguyễn Thị H, Lê Đăng L, Nguyễn Thị Y, Chu Văn Th, Đỗ Văn K, Đỗ Thị X, Trịnh Thị P, Phan Thị N, Phạm Thị M, Nguyễn Thị S phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; các điểm a, b, d khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:
Đỗ Thị T 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, 15 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Buộc bị cáo phải chấp hình phạt chung cho cả hai tội là 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2023 đến ngày 15/8/2023.
- Áp dụng: Các điểm a, b, d khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:
Phạm Văn Q 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/11/2023.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:
Chu Văn Th 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2023 đến ngày 23/8/2023.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:
Đỗ Văn K 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 65; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:
Lê Đăng L 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nguyễn Thị H 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nguyễn Thị Y 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đỗ Thị X 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trịnh Thị P 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phan Thị N 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạm Thị M 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nguyễn Thị S 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/01/2024 bị cáo Chu Văn Th và ngày 30/01/2024 bị cáo Đỗ Thị T kháng cáo xin hưởng án treo.
Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, ngày 11/4/2024 bị cáo Đỗ Thị T có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Chu Văn Th bổ sung kháng cáo xin giảm hình phạt và trình bày: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
+ Các bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
+ Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đỗ Thị T có đơn xin rút đơn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị T, phần quyết định của bản án sơ thẩm liên quan đến bị cáo Đỗ Thị T có hiệu lực thi hành.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chu Văn Th, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo không tham gia tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về trình tự, thủ tục và thẩm quyền đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về nội dung: Căn cứ lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 06/8/2023, bị cáo Đỗ Thị T đã chuẩn bị công cụ là 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, cắt 04 quân vị, sau đó thuê bị cáo Phạm Văn Q đứng canh gác cảnh giới để tổ chức cho một số đánh bạc xóc đĩa được thua bằng tiền tại nhà mình ở Thôn H, xã V, huyện C, Hà Nội. Bị cáo T đã gọi điện thoại rủ rê các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Y, Lê Đăng L, Chu Văn Th, Đỗ Văn K, Đỗ Thị X, Trịnh Thị P, Phan Thị N, Phạm Thị M, Nguyễn Thị S đến nhà mình và thu được 350.000 đồng tiền hồ phế. Sau đó, bị cáo T dùng số tiền hồ phế thu được và cùng đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền. Đến 13 giờ 45 phút cùng ngày tất cả bị Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện C phối hợp với Công an xã V phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 16.710.000đ.
Với hành vi trên, Bản án sơ thẩm đã xử bị cáo Đỗ Thị T về tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 và điểm a, b, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; bị cáo Chu Văn Th về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trước khi mở phiên toà phúc thẩm, bị cáo Đỗ Thị T có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo.
[4] Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Chu Văn Th 09 tháng tù là có phần nghiêm khắc.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Tại phiên tòa bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo vẫn đảm bảo giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện sự nhân đạo khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị T.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Chu Văn Th.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hà Nội về hình phạt.
Tuyên bố bị cáo Chu Văn Th phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:
Chu Văn Th 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/8/2023 đến ngày 23/8/2023.
Các bị cáo Chu Văn Th và Đỗ Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Phong |
Bản án số 332/2024/HS-PT ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc
- Số bản án: 332/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án PT 332 -12.4.24 Đỗ Thị T, Chu Văn Th- Đánh bạc
