TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 332/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 06/9/2024.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, tranh chấp tài sản khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Ngọc Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Công Tâm.
- Ông Phạm Gia Ảnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2024/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, tranh chấp tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST - HNGĐ – năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H - Sinh năm: 1980; địa chỉ: 1 ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (về tài sản): Ông Phạm Kim C - Sinh năm 1972; địa chỉ: ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1980; địa chỉ: 1 ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Huỳnh Minh T1 - Luật sư Công ty TNHH MTV Đ thuộc đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: số C Đ, kp3, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người làm chứng do nguyên đơn triệu tập: Ông Nguyễn Thanh T2 - Sinh năm: 1978; địa chỉ: ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người làm chứng do bị đơn triệu tập: Ông Nguyễn Văn B - Sinh năm: 1969; địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền (về tài sản) trình bày:
Về hôn nhân: Năm 2001, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T có tiến đến hôn nhân, hôn nhân giữa ông bà là tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 07/3/2003.
Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là do có nhiều bất đồng quan điểm, không thống nhất trong việc làm ăn, sử dụng tiền trong việc mua bán mai kiểng nên ông bà thường xảy ra cãi vã.
Cho rằng tình cảm vợ chồng là không còn, không thể hàn gắn để đoàn tụ. Vì vậy, ông H yêu cầu ly hôn với bà T. Ông không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Ông bà có 02 người con là Nguyễn Thanh H1 - Sinh ngày 29/11/2003 và Nguyễn Như Ý - Sinh ngày: 07/11/2012. Do cháu Ý m sống với bà T nên sau khi ly hôn ông đồng ý việc bà T tiếp tục nuôi con.
Ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng là 1.500.000đồng/tháng. Cấp dưỡng 03 tháng/lần cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Đối với cháu H1 đã thành niên nên ông không có yêu cầu gì.
Về nợ: Không có.
Về tài sản: Ông bà các tài sản chung gồm:
Thứ nhất: Phần đất diện tích 2.782,7m² thuộc thửa 480 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre do ông bà đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất này có nguồn gốc từ cha mẹ ông cho. Do vậy, ông đề nghị được nhận toàn bộ thửa đất này.
Trên đất có căn nhà do vợ chồng ông xây dựng và một số cây kiểng (mai, kiểng trong chậu,....) ông yêu cầu được nhận toàn bộ đất và tài sản trên đất (nhà, cây kiểng,....). Ông đồng ý trả lại cho bà T 1/2 giá trị.
Ngoài ra trên đất có 14 cây kiểng của 02 người con của ông. Số cây kiểng mà ông yêu cầu nhận đã trừ đi 14 cây này.
Thứ hai: Phần đất diện tích 1.625,1m² thuộc thửa 262 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre do ông bà đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất này có nguồn gốc là cha mẹ bà T cho khoảng 1.000m² sau đó ông bà mua thêm khoảng 600m².
Đất đã bơm cát bằng phẳng và để mai kiểng vô chậu, số lượng mai là 406 cây, để toàn bộ diện tích đất. Ông đồng ý để bà T nhận toàn bộ đất, tài sản trên đất. Ông yêu cầu bà T trả lại cho ông 1 giá trị.
Thứ ba: Trong thời gian chung sống bà T có gửi tiền tại Ngân hàng A số tiền 2.400.000.000đồng. Ông yêu cầu bà T trả lại cho ông 1 là 1.200.000.000đồng.
Tại phiên tòa, ông xác định lại số tiền chung mà bà T giữ là 1.500.000.000đồng. Tuy nhiên, ông chỉ yêu cầu giải quyết số tiền 1.200.000.000đồng. Ông chỉ yêu cầu bà T trả lại cho ông 600.000.000đồng. Số tiền còn lại bà T tiếp tục quản lý.
Thứ tư: Ông và bà T có số vàng 20 chỉ 24kra, bà T đang giữ số vàng này. Đối với số vàng này thì ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày:
Về hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông H.
Về con chung: Cháu Nguyễn Thanh H1 - Sinh ngày 29/11/2003 đã thành niên nên ông bà không có yêu cầu gì.
Đối cháu Nguyễn Như Ý - Sinh ngày: 07/11/2012. Do cháu muốn sống với bà nên sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Ý. Bà yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đồng/tháng, cấp dưỡng 01 lần cho đến khi con tròn 18 tuổi.
Về nợ: Không có.
Về tài sản: Bà có yêu cầu như sau:
Thứ nhất: Bà yêu cầu nhận phần đất và toàn bộ số cây mai trên phần đất diện tích 1.625,1m² thuộc thửa 262 tờ bản đồ số 24 nói trên. Bà đồng ý trả lại cho ông H 1/2 giá trị.
Thứ hai: Đối với phần đất diện tích 2.782,7m² thuộc thửa 480 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre do ông bà đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do trên đất có nhà của ông bà. Do vậy, bà đề nghị Tòa án cho bà nhận 679,7m² (phần có căn nhà) để bà làm chỗ ở. Đối với cây trồng trên đất thì bỏ lại 14 cây mai (số cây mai này của 02 con - ông bà đã xác định trước đó). Số cây còn lại ông H nhận và di dời ra khỏi đất. Trường hợp ông H không di dời được thì bà đồng ý cho ông để lại trên đất đến khi bán hoặc để lại 02 năm.
Ông H nhận 1.945,4m² còn lại và toàn bộ cây trồng (cây kiểng) trên đất 480 này.
Đối với diện tích 157,6m² còn lại thì làm lối đi chung ra lộ, bà và ông H cùng đứng tên.
Đối với phần đất này ai nhận giá trị nhiều hơn thì trả lại cho người còn lại 1/2 phần chênh lệch.
Thứ ba: Trong thời gian chung sống bà T giữ tiền và có gửi tại Ngân hàng A số tiền 500.000.000đồng. Bà đồng ý giao lại cho ông 250.000.000đồng.
Đối với việc Ngân hàng cung cấp bản sao kê tài khoản gửi của bà có phát sinh thêm số tiền 1.000.000.000đồng (đã tất toàn ngày 04/4/2024) thì đây là số tiền của bà giữ dùm cậu của bà là ông Nguyễn Văn B. Giữ từ tháng 12/2022. Lúc đầu bà không có làm giấy tờ gì về việc giữ dùm số tiền này. Đến ngày 7/3/2023, mới làm biên nhận. Ngày 04/4/2024, bà đã trả số tiền này cho ông B, có làm biên nhận trả tiền.
Thứ Tư: Số vàng 20 chỉ 24kra mà ông H nói là không có. Bà chỉ có giữ 19 chỉ vàng 24kra. Do từ khi mâu thuẫn thì bà đã bán số vàng này để xoay sở công việc và tiêu xài, lo cho con. Hiện tại chỉ còn 09 chỉ vàng 24kra. Số vàng này bà đề nghị tiếp tục giữ để chăm sóc cây kiểng và lo cho các con.
Người làm chứng do nguyên đơn triệu tập là ông Nguyễn Thanh T2 trình bày:
Ông là anh ruột của nguyên đơn. Ông làm chứng về nguồn gốc đất trong vụ án. Do tại phiên tòa, các bên trình bày đúng về nguồn gốc 02 thửa đất nên ông không có ý kiến gì.
Người làm chứng do nguyên đơn triệu tập là ông Nguyễn Văn B trình bày:
Ông bà cậu ruột của bị đơn. Ông làm chứng về số tiền 1.000.000.000đồng trong tài khoản của cháu ông là bà T. Tháng 12/2022, ông có đưa cho bà T 1.000.000.000đồng nhờ gửi Ngân hàng dùm. Hàng quý, bà T có đưa cho ông 3.000.000đồng - 4.000.000đồng tiền lãi.
Về nguồn gốc số tiền này là do khoảng năm 2001 mẹ ông có bán đất 02 lần, khoảng năm 2014 có bán đất lần 3 được khoản 400.000.000đồng. Do mẹ lớn tuổi và ông bị bệnh trong thời gian dài, không làm ra tiền (có 02 công đất trồng tắc, dừa không có hoa lợi), ông cũng không có vợ con nên mẹ ông cho ông số tiền này để ông nhờ bà T gửi Ngân hàng lấy lãi sống.
Hiện tại ông đã nhận lại số tiền này từ bà T nên ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T trình bày:
Đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của bà T. Trường hợp cần thiết thì bà T đồng ý giao toàn bộ số cây trên thửa 262 cho ông H để bù trừ nghĩa vụ.
Do bà T là phụ nữ, phải chăm sóc con nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bảo vệ quyền lợi của bà T.
Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Đề nghị Tòa án ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông H và bà T.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Như Ý - Sinh ngày: 07/11/2012 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng.
Buộc ông H cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng là 1.500.000đồng/tháng, cấp dưỡng 03 tháng/lần.
Về nợ: Ghi nhận việc ông H, bà T khai không có.
Về tài sản: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Chia cho nguyên đơn toàn bộ phần đất diện tích 2.782,7m² thuộc thửa 480 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre. Ông H được nhận toàn bộ tài sản, công trình trên đất (đã trừ đi số cây mai kiểng của 02 con) và có nghĩa vụ trả lại cho bà T 1/2 giá trị.
Bà T được lưu cư trong căn nhà này trong thời gian 06 tháng kể từ thời điểm Tòa tuyên án.
Chia cho bà T phần đất diện tích 1.625,1m² thuộc thửa 262 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre. Bà T được nhận toàn bộ cây trồng trên đất và có nghĩa vụ trả lại cho ông H 1/2 giá trị.
Buộc bà T giao lại cho ông H số tiền 600.000.000đồng.
Đối với số vàng 19 chỉ vàng mà bà T đang giữ thì các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, tranh chấp tài sản khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do các bên tranh chấp và nguyên đơn có đơn khởi kiện nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong đơn khởi kiện, trong văn bản trình bày ý kiến của các đương sự thì các bên tranh chấp đối với thửa 262 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre với diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.609m². Qua đo đạc phần đất này có diện tích 1.625,1m². Tại phiên tòa, các đương sự cùng thống nhất tranh chấp toàn bộ thửa đất và lấy diện tích 1.625,1m² để giải quyết vụ án mà không phải làm đơn khởi kiện bổ sung. Xét thấy, đề nghị này là phù hợp với thực tế tranh chấp và diện tích này đã được Tòa án hòa giải. Do vậy, việc các đương sự không phải làm đơn yêu cầu bổ sung và việc Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo diện tích này là phù hợp.
Tại phiên tòa, bị đơn mời ông Nguyễn Văn B làm chứng số tiền 1.000.000.000đồng gửi Ngân hàng là tiền của ông B nhờ bà T gửi dùm. Ông B cho rằng ông đã nhận lại số tiền này nên không yêu cầu gì trong vụ án này. Các đương sự khác cũng không có yêu cầu gì đối với ông B nên việc Hội đồng xét xử xác định ông B là người làm chứng là phù hợp.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về hôn nhân: Việc kết hôn giữa ông H và bà T là tự nguyện, ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 07/3/2003. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, sau khi chung sống hạnh phúc một thời gian thì đời sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn.
Hiện tại mặc dù ông bà còn sống chung nhà nhưng giữa ông bà không có sự quan tâm đến nhau mà mạnh ai nấy sống. Trong quá trình giải quyết vụ án ông bà thống nhất ly hôn. Do vậy, cần chấp nhận việc thuận tình ly hôn giữa ông bà là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Ông bà có 02 người con chung là Nguyễn Thanh H1 - Sinh ngày 29/11/2003 và Nguyễn Như Ý - Sinh ngày: 07/11/2012.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Ý có nguyện vọng sống với bà T. Đồng thời ông bà thống nhất cháu Ý sẽ do bà T tiếp tục nuôi dưỡng. Do vậy, cần giao cháu Ý cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp.
Ghi nhận việc ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Ý số tiền 1.500.000đồng/tháng.
Đối với việc bà T yêu cầu cấp dưỡng 01 lần đến khi cháu Ý tròn 18 tuổi nhưng ông H không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình cần ghi nhận sự tự nguyện của ông H về việc cấp dưỡng nuôi con 03 tháng/lần là phù hợp.
Đối với cháu Nguyễn Thanh H1 - Sinh ngày 29/11/2003 do đã thành niên và ông bà không có yêu cầu gì đối với người con này nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản:
[2.3.1] Phần đất qua đo đạc có diện tích 1.625,1m² thuộc thửa 262 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre do ông H, bà T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất này có nguồn gốc là cha mẹ bà T cho khoảng 1.000m² sau đó ông H, bà T mua thêm khoảng 600m².
Đất đã bơm cát bằng phẳng và để 406 cây mai kiểng vô chậu, để toàn bộ thửa đất. Các đương sự thống nhất bà T nhận toàn bộ đất và tài sản trên đất và trả lại cho ông H 1/2 giá trị. Xét thấy, sự thỏa thuận này là tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Qua định giá xác định thửa 262 có giá trị: 900.000đồng/m² x 1.625,1m² = 1.462.590.000đồng; giá trị cây trồng là: 550.000.000đồng. Tổng giá trị thửa đất là: 2.012.590.000đồng.
Bà T nhận thửa đất này nên phải trả lại cho ông H 1/2 giá trị là 1.006.295.000đồng.
[2.3.2] Phần đất qua đo đạc có diện tích 2.782,7m² (gồm thửa 480 còn lại diện tích 1.945,4m², thửa 480 tách 2 diện tích 679,7m² và thửa 480 tách 1 diện tích 157,6m²) thuộc thửa 480 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre do ông H, bà T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất này có nguồn gốc từ cha mẹ ông H cho.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H yêu cầu nhận toàn bộ phần đất này nhưng bà T không đồng ý. Bà T yêu cầu nhận thửa 480 tách 2 diện tích 679,7m² nơi có căn nhà. Ông H2 nhận thửa 480 còn lại diện tích 1.945,4m²; đối với thửa 480 tách 1 diện tích 157,6m² thì cả ông bà cùng nhận để làm lối đi chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, phần đất này có nguồn gốc từ gia đình ông H. Mặc dù phần đất này có căn nhà và có diện tích lớn hơn thửa 262 mà bà T nhận nhưng phần đất này ít tiếp giáp với đường công cộng, không thuận tiện bằng thửa 262 của bà T được nhận. Đồng thời giữa ông bà đã ly hôn. Việc ở gần nhau sẽ ảnh hưởng không tốt đến sinh hoạt và cuộc sống sau này.
Do vậy cần giao toàn bộ thửa đất này cho ông H và buộc ông trả lại cho bà T 1/2 giá trị là phù hợp.
Qua định giá xác định thửa 480 có giá trị: 600.000đồng/m² x 2.782,7m² = 1.669.620.000đồng.
Giá trị tài sản:
- Nhà chính: kết cấu khung bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền lót gạch Cermic, mái lợp tôn tráng kẽm, tầng thạch cau tấm. Tỷ lệ chất lượng còn lại là 75%. Có giá trị: 3.422.250đồng/m² x 190,4m² = 651.596.400đồng;
- Nhà tiền chế (mái che): Kết cấu khung thép, không vách, nền láng xi măng, mái lợp tôn tráng kẽm, không trần. Tỷ lệ chất lượng còn lại là 70%. Có giá trị: 798.700đồng/m² x (90,3m² + 10,9m² + 9,8m²) = 88.655.700đồng;
- Cống nước sinh hoạt (02 cống đôi - 04m³/cống), có giá trị: 4.684.000đồng;
- Hàng rào: Kết cấu tường xây gạch và khung thép, diện tích 94,08m². Tỷ lệ chất lượng còn lại là 70%. Có giá trị: 74.285.568đồng;
Giá trị cây mai trên đất: 400.000.000đồng (đã trừ đi 14 cây của cháu H3 và cháu Ý - các bên đã thống nhất, đánh dấu được 14 cây này)
Tổng giá trị thửa 480 là: 2.884.157.668đồng.
Ông H nhận thửa đất này nên phải trả lại cho bà T 1/2 giá trị là 1.442.079.000đồng.
Ngoài ra trên đất còn có các tài sản khác gồm:
- Nhà bếp: Khung cột bê tông chôn chân, vách gỗ, nền láng xi măng, mái lợp tôn Firo xi măng, không trần.
- Nhà tắm: Tường xây gạch, nền láng xi măng, nền láng xi măng, mái lợp tôn Firo xi măng.
- Cống chứa nước sinh hoạt 6m³.
Do các đương sự không yêu cầu định giá và không tranh chấp đối với các tài sản này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Giao cho ông H quản lý các công trình này là phù hợp.
[2.3.3] Đối với số tiền gửi Ngân hàng do bà T đứng tên:
Bà T cho rằng bà và ông H chỉ có tài sản chung là tiền gửi tiết kiệm 500.000.000đồng ngày 11/3/2024 tại Ngân hàng A số AD 00025485539, số tài khoản: 7106601620081. Tuy nhiên, căn cứ kết quả sao kê do Ngân hàng cung cấp thì từ năm 2022 đến tháng 3/2024 bà T duy trì tiền gửi trên 1.000.000.000đồng. Thời điểm gần đây nhất là ngày 11/3/2024 bà gửi tiết kiệm 500.000.000đồng (hiện tại chưa tất toán) và 1.000.000.000đồng (đã tất toàn ngày 04/4/2024).
Từ đó cho thấy, số tiền tài sản chung mà bà giữ là 1.500.000.000đồng. Do vậy, cần chấp nhận một phần yêu cầu của ông H đối với số tiền 1.200.000.000đồng trong số tiền này. Cụ thể: buộc bà T giao lại cho ông H 600.000.000đồng là phù hợp.
Đối với số tiền chênh lệch còn lại là 300.000.000đồng do ông H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Đối với việc bà T và người làm chứng là ông B cho rằng có nhờ bà T gửi Ngân hàng giúp 1.000.000.000đồng, có gửi Tòa án biên bản do bà T và ông B người ký nhận và ông bà không có báo cho ông H biết việc giữ dùm này. Xét thấy, giữa bà T và ông B là người thân. Trong quá trình giải quyết vụ án bà T không đề cập đến vấn đề này. Chỉ khi nhận được kết quả sao kê của Tòa án bất lợi cho bà thì bà mới trình bày tình tiết này.
Ngoài ra, Số tiền 1.000.000.000đồng không phải là số tiền nhỏ, việc lập biên nhận là sơ xài, không có người làm chứng, không có thông qua cơ quan chức năng về việc xác nhận chữ ký của bà T và ông B. Do vậy, việc bà T cho rằng trong số tiền 1.500.000.000đồng có 1.000.000.000đồng này là không đáng tin nên không được chấp nhận. Cần xác định đây là tài sản chung của ông bà là phù hợp.
[2.3.4] Ông H cho rằng khi mâu thuẫn bà T còn giữa 20 chỉ vàng 24kra. Tuy nhiên, bà T chỉ thừa nhận có giữ 19 chỉ vàng 24kra. Do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ: Ông H, bà T khai không có nên không xem xét giải quyết.
[3] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích của bà T là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chỉ được chấp nhận một phần.
[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
[5] Về án phí: Các đương sự phải nộp án phí theo quy định, cụ thể:
Về án phí ly hôn: Do ông H và bà T thuận tình ly hôn nên mỗi người phải nộp 75.000đồng tiền án phí.
Về án phí cấp dưỡng: Buộc ông H phải nộp 300.000đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí chia tài sản: Ông H và bà T mỗi người nhận 3.048.373.000đồng tài sản nên mỗi người phải chịu 92.967.000đồng.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thu thập chứng cứ là 10.032.000đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ. Do nguyên đơn và bị đơn đều được nhận tài sản nên cần buộc bà T trả lại cho nông Hiên 1/2 chi phí là 5.016.000đồng là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 33, 51, 55, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 107, 110, 119 của Luật hôn nhân và gia đình;
Các điều 208, 210 Bộ luật dân sự;
Các điều 147, 157, 165, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Các điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T (ông H được ly hôn với bà T).
Ghi nhận việc ông bà không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Như Ý - Sinh ngày: 07/11/2012 cho bà T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Buộc ông H2 cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng là 1.500.000đồng/tháng (một triệu năm trăm ngàn đồng mỗi tháng).
Cấp dưỡng 03 tháng/lần. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (ngày 06/9/2024) cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lợi dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con chung cha, mẹ hoặc cơ quan có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Đối với cháu Nguyễn Thanh H1 - Sinh ngày 29/11/2003 do đã thành niên và ông bà không có yêu cầu gì đối với người con này nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản:
- Bà Nguyễn Thị T nhận phần đất qua đo đạc có diện tích 1.625,1m² thuộc thửa 262 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre do ông H, bà T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (có họa đồ kèm theo).
Bà T được toàn quyền quản lý, định đoạt toàn bộ tài sản trên đất.
Buộc bà T phải trả lại cho ông H số tiền 1.006.295.000đồng (một tỷ không trăm lẻ sáu triệu hai trăm chín mươi lăm ngàn đồng).
- Ông Nguyễn Văn H nhận phần đất qua đo đạc có diện tích 2.782,7m² (gồm thửa 480 còn lại diện tích 1.945,4m², thửa 480 tách 2 diện tích 679,7m² và thửa 480 tách 1 diện tích 157,6m²) thuộc thửa 480 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre do ông H, bà T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (có họa đồ kèm theo).
Ông H được toàn quyền quản lý toàn bộ số cây trồng (cây mai kiểng) trên phần đất này (đã trừ đi 14 cây của cháu H3 và cháu Ý - các bên đã thống nhất, đánh dấu được 14 cây này).
Ông H được toàn quyền quản lý toàn bộ công trình trên đất (nhà, mái che phía trước, mái che phía sau, 02 cống chứa nước (4m³/cống), hàng rào....).
Buộc ông H phải trả lại cho bà T3 số tiền 1.442.079.000đồng (một tỷ bốn trăm bốn mươi hai triệu không trăm bảy mươi chín ngàn đồng).
Đối với các công trình còn lại trên đất như: Nhà bến, nhà tắm, cống nước 6m³ do các bên không tranh chấp nên không xem xét giải quyết. Tạm giao cho ông H quản lý các công trình này.
Bà Nguyễn Thị T được quyền lưu cư trong căn nhà trên phần đất này trong thời gian 06 tháng kể từ thời điểm tuyên án (ngày 06/9/2024).
- Buộc bà T phải trả lại cho ông H số tiền 600.000.000đồng (sáu trăm triệu đồng).
Bà T toàn quyền quản lý số tiền gửi tiết kiệm 500.000.000đồng mở ngày 11/3/2024 tại Ngân hàng A số AD 00025485539, số tài khoản: 7106601620081 và số tiền 1.000.131.500đồng bà đã tất toàn ngày 04/4/2024 tại Ngân hàng A.
- Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc sang tên, tách thửa, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất mà mình được nhận cho phù hợp với nội dung bản án đã tuyên.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Bà Nguyễn Thị T nhận phần đất qua đo đạc có diện tích 1.625,1m² thuộc thửa 262 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre do ông H, bà T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (có họa đồ kèm theo).
- Về án phí sơ thẩm:
Nguyên đơn là ông H phải nộp 93.342.000đồng (chín mươi ba triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn đồng) tiền án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000839 ngày 08/5/2024 và 26.562.000đồng (hai mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi hai ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000840 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Nguyên đơn phải nộp tiếp 66.480.000đồng (sáu mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi ngàn đồng) tiền án phí.
Bị đơn là bà T phải nộp 93.042.000đồng (chín mươi ba triệu không trăm bốn mươi hai ngàn đồng) tiền án phí.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn là bà T phải trả lại cho ông H chi phí tố tụng là 5.016.000đông (năm triệu không trăm mười sáu ngàn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Ngọc Tú |
13
Bản án số 332/2024/HNGĐ - ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con, tranh chấp tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 332/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, tranh chấp tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòa án xét xử và chấp nhận yêu cầ của nguyên đơn
