Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 332/2024/DS-PT

Ngày: 06/8/2024

V/v “Tranh chấp ranh giới

giữa các bất động sản liền kề”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải.

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung

Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02 và 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 145/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 06 năm 2024 về việc “Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DSST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 248/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Châu Văn Ngọc Ú, sinh năm 1955;
  2. Bà Lương Thị N, sinh năm 1962.

Cùng địa chỉ: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ú, Năm: Bà Hồ Thị Thu T, sinh năm 1981 (Giấy ủy quyền ngày 12/9/2022); địa chỉ: khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Võ Ngọc T1, sinh năm 1974. (có mặt)

Địa chỉ: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Võ Ngọc H, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu V Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (văn bản uỷ quyền ngày 14/11/2023). (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Phước T2, sinh năm1962 (vắng mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1961 (vắng mặt)
  3. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1941.

Cùng địa chỉ: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của bà T3: ông Võ Ngọc H, sinh năm 1998 (Giấy ủy quyền ngày 04/11/2022); địa chỉ: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Ngọc T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Châu Văn Ngọc Ú, bà Lương Thị N trình bày: Ông Châu Văn Ngọc Ú và bà Lương Thị N có đứng tên sử dụng diện tích đất 226,8m², tại thửa 1978, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00390, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 23/9/2005. Nguồn gốc là của cha mẹ sử dụng từ trước năm 1975, đến năm 2005 thì tặng cho lại vợ chồng ông Ú, bà N sử dụng ổn định đến nay.

Quá trình sử dụng đất, khi xây dựng nhà nguyên đơn có chừa ra khoảng không gian trống để xây hàng rào và thuận tiện cho việc mở cửa sổ, thời điểm nguyên đơn xây nhà không có ai tranh chấp khiếu nại liên quan. Tiếp giáp với đất của nguyên đơn là thửa 309 và 332 do ông Võ Phước T2 đứng tên nhưng thực tế do ông Võ Ngọc T1 trực tiếp sử dụng. Ông T1 tự ý trồng các cây trồng sát ranh đất, ông Ú có ra ngăn cản yêu cầu ông T1 trồng cây cách hàng rào 2m để tránh tình trạng khi cây lớn nhánh cây sẽ xâm phạm qua phần không gian nhà ông Ú. Mặc dù ông Ú đã có ngăn cản nhưng ông T1 vẫn tiến hành trồng và hậu quả là hiện nay có một số cây trồng đã lớn bị nghiêng đỗ thân cây và các nhánh cây lấn chiếm qua không gian, đè ngã hàng rào, đè lên cả mái nhà ông Ú.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Võ Ngọc T1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị T3, Võ Phước T2, Nguyễn Thị Thu L có trách nhiệm di dời toàn bộ các cây trồng để giao trả lại lấn chiếm phần không gian và phần lấn chiếm ranh qua đo đạc thực tế là 23,4m² (ký hiệu A), thuộc thửa 1978 do ông Ú, bà N đứng tên.

Bị đơn ông Võ Ngọc T1 và người liên quan bà Nguyễn Thị T3 thống nhất trình bày: Về nguồn gốc đất ông T1 đang sử dụng đã được giải quyết theo bản án dân sự sơ thẩm số 114/2022/DS-ST ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt (đã có hiệu lực pháp luật), công nhận cho ông Võ Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị T3 (mẹ ông T1) được quyền sử dụng diện tích đất 2882,6m² thuộc một phần thửa 309 và 332 nhưng trên giấy tờ vẫn còn do ông Võ Phước T2 đứng tên, ông T1 đang làm thủ tục đăng ký cấp giấy tuy nhiên vẫn còn tranh chấp ranh đất với ông Ú, bà N tại thửa 1978 và với ông V tại thửa 331 nên chưa thực hiện được.

Trước đây vào tháng 4 năm 2020 ông Ú đã có gửi đơn đến Ủy ban nhân dân phường T tranh chấp với ông T1. Hội đồng hòa giải phường T tiến hành hòa giải và hai bên đã thống nhất xác định được mốc ranh giữa thửa 332 và 1978 thông qua trụ đá đầu thửa 332 (sát lộ giao thông) và trụ đá cuối thửa 331, sau đó nối dây lại bên nào lấn chiếm thì bên đó di dời. Việc thỏa thuận có lập biên bản và hai bên ký tên xác nhận tại Ủy ban phường T. Tuy nhiên khi đến thực địa để kéo dây thì lại đụng vào vách tường nhà ông Ú. Lúc đó ông Ú cũng đồng ý theo trụ đá ranh đó và hứa sẽ di dời nhưng sau đó lại không thực hiện mà tiếp tục nộp đơn khởi kiện đến Tòa án tranh chấp với ông T1 vào tháng 9 năm 2022. Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ý kiến ông T1 và bà T3 không đồng ý vì không có lấn chiếm đất.

Người liên quan ông Võ Phước T2, bà Nguyễn Thị Thu L thống nhất trình bày: Toàn bộ diện tích đất tại thửa 309 và 332 do ông Võ Phước T2 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thực tế là do ông Võ Ngọc T1 quản lý sử dụng. Căn cứ theo Bản án dân sự sơ thẩm số 114/2022/DS-ST ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã có hiệu lực pháp luật công nhận cho ông T1 được quyền sử dụng diện tích đất 2882,6m², thuộc một phần thửa 309 và 332. Cho nên ý kiến của vợ chồng ông T2, bà L là không có yêu cầu gì trong vụ án này, đồng ý giao cho ông T1 toàn quyền quyết định các vấn đề tranh chấp với nguyên đơn. Vợ chồng ông T2, bà L xin được vắng mặt trong các lần hòa giải, xét xử sau này.

Tại bản án sơ thẩm số 64/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Công nhận cho ông Châu Văn Ngọc Ú và bà Lương Thị N được quyền sử dụng diện tích đất 23,4m², loại đất ODT + CLN (tại vị trí ký hiệu A) thuộc thửa 1978, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Buộc bị đơn ông Võ Ngọc T1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Nguyễn Thị T3, Võ Phước T2, Nguyễn Thị Thu L phải có trách nhiệm giao cho ông Châu Văn Ngọc Ú, bà Lương Thị N diện tích đất 23,4m² nêu trên.

Buộc ông Võ Ngọc T1 phải có trách nhiệm khắc phục, chặt bỏ các nhánh cây trồng cặp theo ranh đất xâm phạm qua phần không gian phía trên thửa đất 1978 của nguyên đơn.

Vị trí, kích thước, diện tích đất cụ thể được xác định căn cứ theo Bản trích đo địa chính số 1041/TTKTTNMT do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C lập ngày 15/9/2023.

Ông Châu Văn Ngọc Ú và bà Lương Thị N phải trả lại cho ông Võ Ngọc T1 giá trị diện tích đất 8m² loại đất CLN là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Kể từ ngày ông T1 có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp ông Ú, bà N chậm trả đối với số tiền trên thì phải chịu lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Vào ngày 16/4/2024, bị đơn ông Võ Ngọc T1 có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết:

  • Đưa ông Lương Văn V1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
  • Lập Hội đồng thẩm định đo đạc lại các thửa đất 309, 331, 332, 1978.
  • Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Công nhận ranh đất của nguyên đơn và bị đơn là ranh thẳng từ trụ đá đầu thửa 332 và trụ đá cuối thửa 331 trên thực tế như hiện nay.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn – ông Võ Ngọc H trình bày: Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Theo hồ sơ kỹ thuật năm 1978 thì đường ranh giửa hai hộ là ranh thằng không bị gãy khúc, cuối thửa 331 có trụ đá nối đầu đến trụ đá thửa 332, giữ nguyên hiện trạng thửa 1978 là 226,4m². Việc mở rộng đường giao thông từ 2m lên 4m, đất thiếu do mở rộng đường lấn vào thửa 1978 và 331. Vị trí B theo Bản trích đo trong bản án 114/2022/DSST ngày 19/9/2022 của Toà án nhân dân quận Thốt Nốt là do ông Võ Phước T2 xác định ranh. Đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận ranh giữa hai bên là ranh thẳng, buộc nguyên đơn trả giả trị đất theo chứng thư thẩm định là đất ODT.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn – bà Hồ Thị Thu T trình bày: Năm 2005, nguyên đơn khi tách thửa có đo đạc và hiện tại khi tranh chấp đo đạc lại diện tích các cạnh không thừa. Ông Ú xác định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trên thực tế phần đất tranh chấp giữa hai bên tiếp giáp thửa 332, có hàng rào hiện hữu, nguyên đơn tháo dỡ xây dựng lại bị ngăn cản và phát sinh tranh chấp. Theo đo đạc hình thể thửa 1978 ranh giáp thửa 332 không thẳng, gấp khúc thiếu 8.3m², đất của bị đơn thiếu do là lộ không phải của thửa 332 nhưng nguyên đơn tự nguyện bồi thường. Đề nghị xem xét không buộc nguyên đơn phải trả giá trị 8.3m², kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở nên bác kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Đối với các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Trên cơ sở tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và qua diễn biến tại phiên toà. Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 điều 308 BLTTDS, giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Sửa phần tuyên về án phí sơ thẩm do đây là tranh chấp quyền sử dụng đất theo hướng dẫn của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 thì đương sự phải nộp án phí không có giá ngạch, cấp sơ thẩm buộc đóng án phí có giá ngạch là chưa phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của bị đơn ông Võ Ngọc T1 thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

[3] Xét nội dung yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, nhận thấy:

[3.1] Nguyên đơn ông Châu Văn Ngọc Ú và bà Lương Thị N có quyền sử dụng thửa đất số 1978, diện tích 226,8m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H” 00390 được cấp ngày 23/9/2005, nguồn gốc đất là do nhận tặng cho tài sản từ ông Lương Văn C (cha bà Lương Thị N) vào ngày 01/8/2005, tách ra từ thửa 331. Quá trình cấp giấy cho nguyên đơn, có đo đạc cụ thể theo Hồ sơ kỹ thuận đất ngày 27/7/2005 và các chủ sử dụng đất tứ cận ký tên xác định ranh.

Căn cứ Bản trích đo địa chính số 320/TTKTTNMT ngày 15/9/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C, qua đo đạc thực tế tổng diện tích đất tại thửa 1978 là 211,4m², các bên đang tranh chấp tại vị trí A diện tích 23,4m² (ông Châu Văn Ngọc Ú đang sử dụng) và vị trí B diện tích 13.8m² (phần đất chưa thống nhất ranh giữa ông Lương Văn V1 và ông Võ Ngọc T1). Nếu cộng phần đất tranh chấp ký hiệu A = 23,7m² vào thửa 1978 là 235,1m², chênh lệch thừa 8,3m² so với giấy chứng nhận được cấp.

[3.2] Bị đơn ông Võ Ngọc T1 đang quản lý sử dụng thửa đất 309 và 332 do ông Võ Phước T2 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số 4688/GCN/RĐ ngày 24/6/1991, thửa 332 có diện tích 2954m² và thửa 309 có diện tích 5288m². Theo Bản trích đo địa chính thể hiện thửa đất có ranh tiếp giáp trực tiếp với thửa 1978 là thửa 332, nhưng do giữa thửa 309 và 332 bị đơn không xác định được ranh giới nên khi đo đạc đã đo tổng thể cả hai thửa nên có tổng diện tích là 8.766,5m², chênh lệch thừa 524,5m² so với giấy chứng nhận quyền được cấp.

[3.3] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan di dời toàn bộ các cây trồng để giao trả lại lấn chiếm phần không gian và phần lấn chiếm ranh qua đo đạc thực tế là 23,4m² (ký hiệu A), thuộc thửa 1978 do ông Ú, bà N đứng tên. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nhưng buộc ông Châu Văn Ngọc Ú và bà Lương Thị N phải trả lại cho ông Võ Ngọc T1 giá trị diện tích đất 8.3m² loại đất CLN là 12.000.000 đồng là chưa phù hợp.

[3.4] Bị đơn kháng cáo cho rằng diện tích đất của nguyên đơn bị thiếu là do mở rộng đường giao thông nông thôn từ 2m lên 4m, không phải do bị đơn lấn chiếm; theo hồ sơ kỹ thuật đất năm 2005 ranh giữa hai bên đã thống nhất theo hiện trạng là ranh thẳng và trên thực tế hiện trạng đất của nguyên đơn và bị đơn sử dụng từ trước đến nay có trụ đá đầu thửa 332 (sát lộ giao thông) và trụ đá cuối thửa 331 cắm xác định ranh từ năm 2005, hiện nay hai trụ đá ranh vẫn còn tồn tại. Đồng thời thửa 1978 từ khi được tách từ thửa 331 đến nay thì giữa hai thửa không có ranh giới nên không có căn cứ cho rằng bị đơn lấn chiếm đất của nguyên đơn.

Qua đối chiếu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thấy rằng:

- Căn cứ Hồ sơ kỹ thuật ngày 27/7/2005, Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 01/7/2005, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ “H” 00390 cấp ngày 23/9/2005 đối với thửa đất 1978, diện tích 226,8m², thể hiện thửa 1978 có kích thước các cạnh như sau:

  • Chiều ngang trước giáp đường giao thông (2m) là 6m, chiều ngang sau 9m giáp phần còn lại thửa 331,
  • Chiều dài giáp thửa 332 là 30m, chiều dài giáp thửa 331 là 30.6m

Qua đo đạc thực tế hiện trạng thửa 1978 theo Bản trích đo địa chính 320/TTKTTNMT ngày 15/9/2023:

  • Chiều ngang trước giáp đường giao thông (4m) là 5.8m nếu cộng chiều ngang phần tranh chấp 0.27m thì diện tích là 6.07m; chiều ngang sau giáp thửa 331 là 8.11m nếu cộng chiều ngang phần tranh chấp 0.89m diện tích là 9.0m
  • Chiều dài giáp thửa 332 là 30,52m; chiều dài giáp thửa 331 là 30.5m

- Căn cứ Hồ sơ kỹ thuật đất ngày 10/8/2005, thửa 331 có chiều ngang trước giáp đường giao thông (2m) là 24.80m. Sau khi tách thửa 1978 thì diện tích thửa 331 còn lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/9/2005, có diện tích là 1533,6m², kích thước chiều ngang trước giáp đường giao thông (2m) là 18.8m.

Theo bản trích đo địa chính thửa 331 có tổng diện tích là 1518.8m² thiếu so với giấy chứng nhận là 14,8m², kích thước chiều ngang trước giáp đường giao thông 18.80m không thay đổi.

Xét thấy, qua đo đạc thực tế việc mở rộng đường giao thông từ 02m lên 04m chỉ ảnh hưởng chiều dài thửa 1978 mà không ảnh hưởng đến chiều ngang. Tuy nhiên, kết quả đo đạc cho thấy chiều dài của thửa 1978 không bị thiếu mà cạnh dài giáp thửa 332 tăng lên 0,52m; cạnh dài giáp thửa 331 không thay đổi. Điều này chứng minh chiều dài thửa 1978 lấn vào thửa 331, nên phần diện tích chênh lệch thừa 8,3m² không lấn sang thửa 332 của bị đơn. Cấp sơ thẩm, xác định theo bản trích đo địa chính số 1041/TTKTTNMT lập ngày 15/9/2023, thửa 1978 của nguyên đơn nếu cộng phần đất tranh chấp A vào thì chênh lệch thừa 8.3m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nguyên đơn đã đồng ý trả lại giá trị đất cho bị đơn với giá đất CLN theo biên bản định giá tài sản là 1.500.000 đồng/m² tương đương số tiền 12.000.000 đồng là có lợi cho bị đơn. Nhưng nguyên đơn không kháng cáo nên không đặt ra xem xét.

Xét việc bị đơn yêu cầu xác định giá bồi thường đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử phúc thẩm theo chứng thư thẩm định giá số 019/2024/1405743/CTO ngày 26/7/2024, của Công ty cổ phần G theo giá đất ở đô thị 3.925.000đồng/m² để buộc nguyên đơn phải trả giá trị trên diện tích 8,3m². Như phân tích trên, phần diện tích chênh lệch thừa 8,3m² tại vị trí A không lấn sang thửa 332 nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc buộc nguyên đơn trả giá trị diện tích 8,3m² theo giá thị trường.

[4] Đối với kháng cáo yêu cầu xác định đường ranh đất giữa nguyên đơn và bị đơn là ranh thẳng. Xét thấy, thửa 1978 của nguyên đơn nếu không tính phần tranh chấp ký hiệu A thì diện tích là 211.4m², bị thiếu 15,4m² so với giấy chứng nhận được cấp. Đối với đất bị đơn tại thửa 332 + 309 thì thừa 524,5m² và bị đơn cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng mà vẫn còn do ông Võ Phước T2 đứng tên trên giấy. Qua xem xét thẩm định tại chỗ trên phần đất tranh chấp ký hiệu A có một phần sê nô phía trước và một phần mái chái vách nhà sau của nguyên đơn đang sử dụng, căn nhà này nguyên đơn đã xây dựng từ năm 2005 đến nay, có chừa một khoảng trống cặp vách nhà để làm hàng rào và mở cửa sổ, khi nguyên đơn xây dựng nhà thì bị đơn cũng không có tranh chấp ngăn cản. Trước khi tranh chấp trong vụ án này, bị đơn cũng khởi kiện tranh chấp đất với tư cách là nguyên đơn trong vụ án khác với ông Võ Phước T2 và đã được giải quyết tại bản án số 114/2022/DSST ngày 19/9/2022 của Toà án nhân dân quận Thốt Nốt, căn cứ theo bản trích đo địa chính số 164/TTKTTNMT ngày 19/9/2022 kèm theo bản án thì cạnh dài tại vị trí B của thửa 3321 + 3091 giáp thửa 1978 là đường cong không phải đường thẳng, nay bản án đã có hiệu lực pháp luật, đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, bị đơn kháng cáo yêu cầu đo đạc lại và công nhận đường ranh đất giữa thửa 1978 và thửa 332 + 309 có đường ranh thẳng là không có cơ sở chấp nhận.

[5] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc giải quyết phần lấn chiếm không gian: Qua thẩm định thực tế có 05 cây Dừa của ông Võ Ngọc T1 trồng bên phần đất của ông T1 nhưng có phần nhánh cây xâm phạm qua không gian trên thửa 1978 của nguyên đơn, do đó ông T1 phải có trách nhiệm khắc phục chặt, mé các nhánh cây trồng để trả lại không gian trống cho nguyên đơn.

Bị đơn kháng cáo nhưng không xuất trình được chứng cứ mới nên không có cơ sở xem xét. Do vậy, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

[6]. Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Võ Ngọc T1.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Công nhận cho ông Châu Văn Ngọc Ú và bà Lương Thị N được quyền sử dụng diện tích đất 23,4m², loại đất ODT + CLN (tại vị trí ký hiệu A) thuộc thửa 1978, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

2. Buộc bị đơn ông Võ Ngọc T1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Nguyễn Thị T3, Võ Phước T2, Nguyễn Thị Thu L phải có trách nhiệm giao cho ông Châu Văn Ngọc Ú, bà Lương Thị N diện tích đất 23,4m² nêu trên.

Buộc ông Võ Ngọc T1 phải có trách nhiệm khắc phục, chặt bỏ các nhánh cây trồng cặp theo ranh đất xâm phạm qua phần không gian phía trên thửa đất 1978 của nguyên đơn.

Vị trí, kích thước, diện tích đất cụ thể được xác định căn cứ theo Bản trích đo địa chính số 1041/TTKTTNMT do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C lập ngày 15/9/2023.

3. Ông Châu Văn Ngọc Ú và bà Lương Thị N phải trả lại cho ông Võ Ngọc T1 giá trị diện tích đất 8m² loại đất CLN là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Kể từ ngày ông T1 có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp ông Ú, bà N chậm trả đối với số tiền trên thì phải chịu lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và 468 của Bộ luật dân sự 2015.

4. Về chi phí thẩm định: Nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), công nhận nguyên đơn đã nộp xong. Ông Võ Ngọc T1 phải nộp số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để giao trả lại cho nguyên đơn.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Ngọc T1 phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt. Nguyên đơn được miễn nộp tiền án phí do là người cao tuổi.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0005303 ngày 16/4/2024 tại Chi cục thi hành án quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - TAND quận Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS quận Thốt Nốt;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Bích Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 332/2024/DS-PT ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề

  • Số bản án: 332/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Châu Văn Ngọc Ú, Lương Thị N - Võ Ngọc T1 - tranh chấp ranh giới giữa các BĐS liền kề
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger