TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 332/2025/HS-ST
Ngày: 27/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP . HCM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đỗ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Dương Hoàng Chinh;
- 2/ Ông Lê Văn Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Lam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 226/2025/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 307/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Huỳnh Lâm D; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1984; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 568/16 đường L, tổ B, khu phố M, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Cư trú: không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị T; có vợ chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày: 24/01/2024 (có mặt tại phiên tòa)
Người có lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1/ Anh Bùi Thanh N – sinh năm 1995; Địa chỉ: số A, đường C, tổ F, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 2/ Anh Trần Văn C – sinh năm 2000; Địa chỉ: A, đường B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 3/ Chị Lương Như N1 – sinh năm 1989; Địa chỉ: 3 tổ B, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 4/ Chị Lê Thị Hoa L – sinh năm 1979; Địa chỉ: khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- 5/ Anh Nguyễn Văn C1 – sinh năm 1995; Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
- 6/ Ông Sơn P – sinh năm 1973; Địa chỉ: B B, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng: anh Lê Phương Q - sinh năm 1992; anh Lê Thanh H - sinh năm 1972
(tất cả vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 24/01/2024 tại trước địa chỉ số A đường A, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ tuần tra của Công an phường T phát hiện Nguyễn Huỳnh Lâm D đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Click màu đen, biển số 62S1-194.79 có biểu hiện nghi vấn nên dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần của D đang mặc cất giấu 05 gói nylon chứa tinh thể không màu, cụ thể trong túi phía trước bên trái 02 gói, bên phải 02 gói và túi quần sau bên phải 01 gói. D khai nhận 05 gói tinh thể không màu là ma túy của D cất giữ để bán cho khách. Tổ tuần tra tiến hành thu giữ tang vật, phương tiện và đưa D về sở Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Kết quả điều tra xác định: D nghiện ma túy từ năm 2018, lần gần đây nhất sử dụng ma túy vào ngày 23/01/2024 tại khách sạn M2 trên đường N, phường L, thành phố T. Nguồn gốc ma túy D sử dụng do D mua của nhiều người khác nhau ở khu vực đường B, phường P, Quận A. D không có số điện thoại của những người bán ma túy, khi muốn mua thì đi quanh khu vực đường B, nếu gặp ai thì D hỏi mua ma túy người đó, không cố định. Từ tháng 10/2023. D mua ma túy đá của C1 về để sử dụng, sau đó các con nghiện hỏi mua nên D nảy sinh ý định mua ma túy của C1 để bán lại thu tiền lời, cụ thể: Vào khoảng trưa ngày 23/01/2024, Bùi Thanh N (tên gọi khác là N2) sử dụng số điện thoại 0795.425.xxx gọi điện thoại cho D hỏi mua 1.400.000 đồng ma túy đá, D hẹn khi nào có ma túy sẽ báo lại sau. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày 24/01/2024, có một người đàn ông tên H1 (chưa rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo tên “Trần H1” hỏi mua 900.000 đồng ma túy đá, D đồng ý. Sau đó, D sử dụng số điện thoại 0772.027.xxx gọi cho Nguyễn Văn C1 qua số điện thoại 0933.461.xxx để nhờ C1 mua giúp 2.500.000 đồng ma túy đá, C1 đồng ý và hẹn D đến phòng số 108, khách sạn H2, địa chỉ số: 02 đường số A, phường L, thành phố T để lấy ma túy. Sau đó D điều khiển xe mô tô biển số 62S1-194.79 đến phòng 108, khách sạn H2 gặp C1 để lấy ma túy như đã thỏa thuận. C1 đưa cho D 01 gói ma túy đá bên trong được chia thành 05 gói nhỏ, D nói với C1 sau khi bán được ma túy sẽ trả tiền cho C1 sau. Sau khi nhận 05 gói ma túy từ C1, D bỏ tất cả vào trong túi quần đang mặc, cụ thể: 02 gói ma tuý cất vào túi quần phía trước bên trái (D dự định sẽ bán 01 gói lớn cho N với giá tiền 1.400.000 đồng, 01 gói nhỏ cho Trần Văn C với giá 300.000 đồng); 01 gói ma túy cất vào túi quần phía sau bên trái (D dự định sẽ bán cho H1 với giá 900.000 đồng); còn lại 02 gói ma túy D cất vào túi quần phía trước bên phải (khi có nhu cầu sử dụng D sẽ lấy một ít để sử dụng, khi nào có người hỏi mua dự định sẽ bán với giá 200.000 đồng đến 300.000 đồng mỗi gói). Trên đường lấy ma túy về, khi đến trước địa chỉ A đường A, phường T, thành phố T thì D bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ tang vật như trên.
Kết luận giám định số 1875/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 5,3774 gam, loại Methamphetamine.
Cơ quan Cảnh sát điều tra truy xét các đối tượng nghiện liên hệ mua ma túy của D như sau:
- - Bùi Thanh N (tên gọi khác là N2) khai nhận quen biết D từ tháng 6/2023. Cuối tháng 11/2023, N dùng số điện thoại 0795.425.xxx gọi cho D để hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. Sau đó D nói N đến khách sạn M2 để lấy ma túy và cho số điện thoại của C1 để N tự liên hệ. Khi N đến khách sạn M2, N gọi vào số điện thoại mà D đã đưa trước đó thì có một người đàn ông đến giao 01 gói ma túy cho N, N trả tiền mặt 300.000 đồng rồi đi về. Đến ngày 23/01/2024, N liên hệ với D hỏi mua “25 số” ma túy đá thì được D báo giá là 1.400.000 đồng, khi nào có ma túy D sẽ liên lạc với N. Đến ngày 25/01/2024 do D bị Công an bắt giữ nên vẫn chưa giao được ma túy cho N.
- - Trần Văn C khai nhận quen biết với D từ tháng 6/2023. Ngày 23/01/2024, C nhắn tin qua Z cho D hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì D cho số điện thoại của C1 và nói C đến khách sạn M2, đường N, khu phố M, phường L, thành phố T để mua ma túy. Sau đó, C đến trước khách sạn M2 thì có 01 người đàn ông đeo khẩu trang đi từ trong khách sạn ra đưa cho C 01 gói ma túy, C đưa tiền mặt 300.000 đồng cho người này rồi đi về. Đến ngày 24/01/2024, C tiếp tục sử dụng tài khoản zalo tên “Cường M1” nhắn tin cho D hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng, do D bị bắt nên chưa kịp giao ma túy cho C.
- - Lương Như N1 quen biết với D từ tháng 12/2023 qua bạn bè giới thiệu. Vào tối ngày 24/01/2024, N1 có nhắn tin qua Zalo “Nguyễn Huỳnh Lâm D” để hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng nhưng thời điểm này D đã bị bắt nên không đọc được tin nhắn của N1.
Ngày 14/8/2024, Nguyễn Văn C1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T bắt giữ về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, C1 thừa nhận C1 là người đã bán ma túy đá cho D một lần vào ngày 24/01/2024 với giá 2.500.000 đồng. Cụ thể: Sau khi nhận được điện thoại của D nhờ mua ma túy đá, C1 liên hệ với người đàn ông tên T1 (chưa rõ lai lịch) ở khu vực quận B để hỏi mua ma túy giúp D và hẹn giao ma túy tại khách sạn H3 Sau khi nhận được ma túy, C1 mở ra kiểm tra thấy bên trong hộp giấy đựng 01 gói nylon bên ngoài có dán băng keo đen. Chấm mở băng keo để xác nhận bên trong là ma túy đá (C1 không mở ra đếm nên không biết bên trong có bao nhiêu gói nhỏ). Sau đó C1 nói D đến phòng 108 để nhận ma túy, khi nào D bán được ma túy thì sẽ trả tiền lại cho C1. Ngoài ra, C1 không thừa nhận đã bán ma túy cho N và C vào tháng 11/2023 và vào ngày 23/01/2024 như D, N và C khai nhận.
Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành cho Nguyễn Huỳnh Lâm D và Nguyễn Văn C1 thực hiện đối chất, kết quả C1 xác nhận chỉ bán ma túy đá cho D 01 lần vào ngày 24/01/2024.
Vật chứng vụ án:
- - 02 gói nylon chứa tinh thể không màu được hàn kín 2 đầu (thu giữ bên trong túi quần trước bên trái);
- - 02 gói nylon chứa tinh thể không màu được hàn kín 2 đầu (thu giữ trong túi quần trước bên phải);
- - 01 gói nylon chứa tinh thể không màu được hàn kín 2 đầu (thu giữ bên trong túi quần sau bên trái);
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen có gắn sim 1: 0772027202, sim 2: 0777161184;
- - 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh dương có gắn sim 0377904635;
- - 01 USB bên trong có chứa dữ liệu camera liên quan đến vụ án;
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Click màu đen, số khung: RLHJF18008Y009579, số máy JF18E-0086060, được gắn biển số 62S1-194.79.
[2] Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSTPTĐ ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố: bị cáo Nguyễn Huỳnh Lâm D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Huỳnh Lâm D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 (chín) năm đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo, số tiền từ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) đến 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)
Vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận hoặc bào chữa gì.
Bị cáo nói lời sau cùng rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, tại trước địa chỉ số A đường A, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Huỳnh Lâm D có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 5,3774 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán lại để kiếm lời thì bị kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Trong vụ án này bị cáo D đã bán ma túy nhiều lần cho nhiều người. Như vậy có cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do tính chất đặc biệt của chất ma túy có thể gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội. Nhà nước ta cũng như cả thế giới đều ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy, mọi hành vi trái pháp luật liên quan đến ma túy đều bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc nếu có vi phạm. Vì vậy, cần xử lý bị cáo bằng hình phạt nghiêm phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung.
[3] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo D có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Đối với Nguyễn Văn C1 ngày 14/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với C1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” trong vụ án khác. Đối tượng Nguyễn Văn C1 là người có hành vi bán trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 5,3774 gam, loại Methamphetamine cho D, hành vi của C1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an thành phố T đã khởi tố Chấm theo quyết định số 9661/QĐ-ĐCSMT ngày 16/12/2024. Đối với hành vi phạm tội này của Nguyễn Văn C1 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã trả hồ sơ điều tra bổ sung để yêu cầu xét xử trong cùng vụ án với Nguyễn Huỳnh Lâm D, tuy nhiên ngày 10/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành văn bản số 42/VKS xác định không nhập vụ án với Nguyễn Huỳnh Lâm D, xử lý độc lập đối với bị cáo D. Do đó Hội đồng xét xử xem xét xử lý hình sự đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh Lâm D, hành vi của Nguyễn Văn C1 sẽ bị xử lý trong vụ án khác.
Đối với Trần Văn C, Lương Như N1 và Bùi Thanh N là các đối tượng nghiện ma túy liên hệ với D để tìm mua ma túy về sử dụng, không có hành vi phụ giúp D bán ma túy nên không có cơ sở xử lý hình sự các đối tượng trên. Các đối tượng này cũng đã bị xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.
[5] Do hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, nên Hội đồng xét xử xem xét và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Vật chứng vụ án:
- - 01 gói niêm phong vụ số 602/24 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định là ma túy thu giữ của Nguyễn Huỳnh Lâm D còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen có gắn sim 1: 0772027202, sim 2: 0777161184 qua kiểm tra điện thoại có nội dung liên quan đến việc mua bán ma túy là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước
- - 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh dương có gắn sim 0377904635 không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
- - 01 USB bên trong có chứa dữ liệu camera liên quan đến vụ án tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Click màu đen, số khung: RLHJF18008Y009579, số máy JF18E-0086060, được gắn biển số 62S1-194.79. Qua xác minh biển số 62S1-194.79 do chị Lê Thị Hoa L đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, chị L trình bày vào ngày 05/9/2023, chị L bị mất 01 xe mô tô hiệu Honda Blade, biển số 62S1-194.79 tại khu phố C, trị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Đối với biển số xe 62S1-194.79 không đồng bộ với xe trên nên tịch thu tiêu hủy.
- - Qua xác minh số khung: RLHJF18008Y009579, số máy: JF18E-0086060 là của xe mô tô hiệu Honda Click màu đen, biển số 59L1-992.33 do ông Sơn P (sinh năm 1973; thường trú: B B, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh, ông P đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2002, cư trú ở đâu không rõ. Qua làm việc, D khai nhận mua lại xe mô tô trên của người môi giới mua bán xe vào khoảng tháng 6/2023 với giá 7.000.000 đồng, không làm thủ tục sang tên và đã làm mất giấy tờ xe. Xe không xác định được chủ sở hữu, bị cáo sử dụng để làm phương tiện phạm tội vì vậy thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của chiếc xe trên, nếu không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu chiếc xe để nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 38; điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Lâm D 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ 24/01/2024.
- - Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong vụ số 602/24 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định và 01 biển số xe 62S1-194.79.
- + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen có gắn sim 1: 0772027202, sim 2: 0777161184
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Huỳnh Lâm D 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh dương có gắn sim 0377904635
- + Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của 01 xe mô tô hiệu Honda Click màu đen số khung: RLHJF18008Y009579, số máy: JF18E-0086060. Hết thời hạn 6 tháng mà không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu chiếc xe để nộp ngân sách nhà nước
- (Vật chứng tại Phiếu nhập kho số NK25/113C ngày 18/12/2024 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- - Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời gian kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Thảo |
Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời gian kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Các Hội thẩm nhân dânChủ tọa phiên tòa
Đỗ Thị Thu T2
Bản án số 332/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HCM về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 332/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HCM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
