Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 332/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 6 - 2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Mai Xuân Thường
  • 2. Bà Hoàng Thị Hường

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại: trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 155/2025/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 349/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1993; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị S; sinh năm: 1963; Địa chỉ: xóm B, xã N (nay là xã N), huyện N, tỉnh Nghệ An (Uỷ quyền giao, nhận văn bản tố tụng).

- Bị đơn: Anh Mai Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An; hiện đang làm việc và cư trú tại: Hungary (không rõ địa chỉ). Vắng mặt (lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong “Đơn khởi kiện” đề ngày 12/12/2024, Bản tự khai ngày 20/12/2024, ngày 01/4/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C trình bày: Chị và anh Mai Văn T kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 19/7/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp. Vợ chồng ly thân nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay, không liên lạc, hỏi han, quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ngày 12/12/2024, chị đã làm đơn khởi kiện gửi đến Toà án nhân dân huyện Nam Đàn yêu cầu giải quyết ly hôn với anh T. Quá trình giải quyết, Toà án nhân dân huyện Nam Đàn đã xác minh tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh N và có kết quả là anh Mai Văn T đã xuất cảnh ngày 10/5/2024, chưa có thông tin nhập cảnh nên Toà án nhân dân huyện Nam Đàn đã chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết theo thẩm quyền. Vì vậy, hiện nay chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Mai Văn T. Tuy nhiên, do vợ chồng đã lâu không liên lạc gì với nhau nên chị không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Mai Văn T tại nước ngoài (Hungary) mà chỉ biết anh T vẫn thường xuyên liên lạc về với mẹ đẻ là bà Ngô Thị L, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An và bà L biết địa chỉ cụ thể của anh T ở Hungary nên đề nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh Mai Văn T có 01 con chung là Mai Chí N, sinh ngày 13/02/2022. Hiện nay cháu N đang ở cùng với chị C. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu N cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Mai Văn T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị C không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn là anh Mai Văn T vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 559/QLXNC- Đ1 ngày 27/02/2025 của Phòng Q Công an tỉnh N thì: “Anh Mai Văn T, sinh ngày 06/01/1995, đã xuất cảnh ngày 10/5/2024 qua của khẩu SBQT Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh T ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh T vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.

Tại đơn trình bày ngày 12/5/2025, bà Ngô Thị L trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Mai Văn T, sinh năm 1995. Con trai bà hiện nay đang lao động tại Hungary. Từ lúc anh T đi nước ngoài đến nay vẫn thường xuyên liên lạc với bà qua ứng dụng Facebook để hỏi thăm sức của người nhà ở Việt Nam. Anh T đã biết việc chị C làm đơn ly hôn. Còn về địa chỉ của anh T ở nước ngoài bà không biết cụ thể nên không thể cung cấp cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 và 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim C được ly hôn anh Mai Văn T.
  • + Về con chung: Giao con chung Mai Chí N, sinh ngày 13/02/2022 cho chị Nguyễn Thị Kim C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T do chị C chưa có yêu cầu.
  • + Về tài sản, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
  • + Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 12/12/2024, chị Nguyễn Thị Kim C có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Mai Văn T. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị C và anh T đều có nơi thường trú tại xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An nhưng từ tháng 5/2024 thì anh T đã đi xuất khẩu lao động ở Hungary đến nay chưa về nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Mai Văn T là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Anh Mai Văn T, hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại Hungary từ tháng 5/2024, không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ nơi cư trú hiện nay. Tòa án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ anh T ở nước ngoài nhưng theo bà Ngô Thị L (mẹ đẻ của anh T) thì anh T tuy vẫn có liên hệ với gia đình và đã biết việc Toà án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim C nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên bà L không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Mai Văn T.

[2]. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kim C và anh Mai Văn T được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hòa thuận và có với nhau một người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng từ đầu năm 2024 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, liên lạc gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh T lại không có mặt tại Tòa án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài nhưng đã ly thân một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, anh T hiện đang đi xuất khẩu lao động tại Hungary nhưng không có liên lạc gì về với chị C; nguyên đơn chị C vẫn kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị C yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Theo lời khai của chị C và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị C, anh T có một con chung là Mai Chí N, sinh ngày 13/02/2022. Hiện nay cháu N đang ở cùng với chị C. Nay ly hôn, chị C xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu cấp dưỡng. Hội đồng xét thấy: Theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì việc nuôi con chung chưa thành niên sau ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ; cháu N lại đang còn nhỏ, từ khi sinh ra đến nay cháu đã ở với chị C, được chăm sóc, phát triển hoàn toàn khỏe mạnh, bình thường nên yêu cầu được nuôi con của chị C là hoàn toàn chính đáng. Mặt khác, anh T hiện nay đang ở nước ngoài, bà L (mẹ đẻ của anh T) không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh T tại nước ngoài nên cần giao con chung cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên. Chị C xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị C không yêu cầu Toà án giải quyết, anh T cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim C phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với anh Mai Văn T.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là Mai Chí N, sinh ngày 13/02/2022 cho chị Nguyễn Thị Kim C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

    Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Kim C không yêu cầu và anh Mai Văn T cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.

    Anh Mai Văn T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Mai Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim C không yêu cầu và anh Mai Văn T cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001795 ngày 16/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Nguyễn Thị Kim C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Mai Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Nam Nghĩa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 19/7/2021);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 332/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 332/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị C và anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger