Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 332/2025/DS-PT

Ngày 20-6-2025

V/v Tranh chấp về hợp đồng

vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Kiến;

Ông Huỳnh Thanh Mỹ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Thị Được - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 13, ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2025/TLPT-DS ngày 28/02/2025, về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 139/2024/DS-ST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2025/QĐ-PT ngày 23/4/2025, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thùy D, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Số I, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp: Chị Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Số A, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1982;

2. Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 1976;

Cùng địa chỉ: Số B, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của bà L, ông P: Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Số C, đường N, Khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Văn P là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Đặng Thị Thùy D trình bày:

Bà D với bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Văn P do chỗ bạn bè và làm ăn kinh doanh buôn bán tạp hóa (bà L kinh doanh ở thị trấn L, còn ông P công chức Ủy ban nhân dân thị trấn L) nên quen biết thân thiết như chị em trong gia đình. Vì vậy, Năm 2022 và năm 2023 bà D có cho vợ chồng bà L, ông P vay tiền để xoay sở vốn kinh doanh buôn bán, và đáo hạn Ngân hàng; thời gian vay và lãi suất vay bà D với bà L, ông P tự thỏa thuận cụ thể như sau:

  1. Lần 1: Ngày 12/3/2022, bà L, ông P hỏi vay số tiền 450.000.000 đồng; bà L ký tên biên nhận; bà L, ông P không đóng lãi tính đến tháng 5/2024 là 26 tháng; tiền lãi là 117.000.000 đồng.
  2. Lần 2: Ngày 27/3/2022, bà L, ông P có vay số tiền 430.000.000 đồng; bà L ký tên, bà L, ông P không đóng lãi từ tháng 4/2022 tính đến tháng 5/2024 là 26 tháng, lãi là 111.800.000 đồng.
  3. Lần 3: Ngày 04/4/2022, bà L, ông P có vay 1.200.000.000 đồng. Bà L có ký tên; bà L, ông P không đóng lãi từ tháng 5/2022 tính đến tháng 5/2024 là 25 tháng; tiền lãi là 300.000.000 đồng.
  4. Lần 4: Ngày 11/4/2022, bà L, ông P có vay 200.000.000 đồng; bà L có ký tên, Bà L, ông P không đóng lãi từ tháng 5/2022 tính đến tháng 5/2024 là 25 tháng, 200.000.000₫ x 1% x 25 tháng = 50.000.000 đồng.
  5. Lần 5: Ngày 15/7/2022, bà L, ông P có vay số tiền 550.000.000 đồng; bà L ký tên; bà L, ông P không đóng lãi từ tháng 8/2022 tính đến tháng 5/2024 là 21 tháng, 550.000.000 đồng x 1% x 21 tháng = 115.500.000 đồng .
  6. Lần 6: Ngày 27/7/2022, bà L, ông P có vay số tiền 250.000.000 đông, bà L ký tên; bà L, ông P không đóng lãi từ tháng 8/2022 tính đến tháng 5/2024 là 21 tháng 250.000.000 đồng x 1% x 21 tháng = 52.000.000 đồng.
  7. Lần 7: Biên nhận ngày 27/8/2022, bà L, ông P có vay số tiền 200.000.000 đồng, bà L ký tên; bà L, ông P không đóng lãi từ tháng 9/2022 tính đến tháng 5/2024 là 21 tháng, 200.000.000 đồng x 1% x 21 tháng = 42.000.000 đồng.
  8. Lần 8: Biên nhận ngày 11/4/2023, bà L, ông P có vay số tiền 300.000.000 đồng, bà L ký tên; bà L, ông P không đóng lãi từ tháng 5/2023 tính đến tháng 5/2024 là 13 tháng, 300.000.000 đồng x 1% x 13 tháng = 39.000.000 đồng.
  9. Lần 9: Ngày 19/5/2023, bà L, ông P có vay số tiền 200.000.000 đồng, bà L ký tên; bà L, ông P không đóng lãi từ tháng 6/2023 tính đến tháng 5/2024 là 12 tháng, 200.000.000 đồng x 1% x 12 tháng = 24.000.000 đồng .
  10. Lần 10: Ngày 01/9/2023, bà L, ông P có vay số tiền 250.000.000 đồng, bà L ký tên biên nhận; bà L, ông P không đóng lãi từ tháng 10/2023 tính đến tháng 5/2024 là 08 tháng, 250.000.000 đồng x 1% x 08 tháng = 20.000.000 đồng
  11. Lần 11: Biên nhận ngày 21/12/2023, bà L, ông P có vay số tiền 150.000.000 đồng, bà L ký tên, bà L, ông P không đóng lãi từ tháng 01/2024 tính đến tháng 5/2024 là 05 tháng, 150.000.000 đồng x 1 \% x 05 tháng = 7.500.000 đồng.

Nay đại diện hợp pháp của bà Đặng Thị Thùy D là chị Lê Thị Mỹ T yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Văn P có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vốn vay gốc còn nợ lại là 4.180.000.000 đồng và tiền lãi là 878.800.000 đồng. Tổng cộng tiền gốc và lãi là 5.058.800.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bà L, ông P có nghĩa vụ liên đới trả tiền vay gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 23/12/2024 là 1.005.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi 5.185.000.000 đồng.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L và Người đại diện hợp pháp anh Nguyễn Thành T1 trình bày:

Bà L thống nhất các biên nhận ngày 12/3/2022, biên nhận ngày 27/3/2022, biên nhận ngày 04/4/2022, biên nhận ngày 11/4/2022, biên nhận ngày 15/7/2022, biên nhận ngày 27/7/2022, biên nhận ngày 27/8/2022, biên nhận ngày 11/4/2023, biên nhận ngày 19/5/2023, biên nhận 01/9/2023, biên nhận ngày 21/12/2023 là của bà L viết và ký tên vay tiền của bà D. Việc vay tiền là có bà L đứng ra hỏi vay và ký biên nhận vay tiền của bà D. Đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bà L và ông P có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay gốc là 4.180.000.000 đồng và tiền lãi là 878.800.000 đồng. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 5.058.800.000 đồng thì bà L không đồng ý. Bởi vì, bà L trình bày đã trả 07 biên nhận vào năm 2022 cho bà D; bà L chứng minh cung cấp bảng sao kê với số tiền 4.837.705.000 đồng; đối với số tiền này bà L xác định đã trả các khoản vay còn nợ cho bà D nhưng cũng không xác định được là số tiền gốc và lãi trong các biên nhận nào, của khoản vay nào. Bà L thừa nhận hiện nay còn nợ bà D số tiền 900.000.000 đồng của các biên nhận ngày 11/4/2023, ngày 19/5/2023, ngày 11/9/2023 và ngày 21/12/2023. Nay bà L đồng ý trả cho bà Đặng Thị Thùy D số tiền 900.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật.

Bà L xác định việc giao dịch vay tiền của bà D thì ông P (chồng bà L) không biết đến việc vay mượn này, nên bà L không đồng ý việc bà D yêu cầu ông P có nghĩa vụ liên đới trả cùng bà L trả số tiền vay cho bà D.

- Bị đơn ông Huỳnh Văn P và Người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Thành T1 trình bày:

Ông Huỳnh Văn P không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Thùy D về việc buộc ông P liên đới với bà Nguyễn Thị Kim L trả tiền vay còn nợ vốn 4.180.000.000 đồng và tiền lãi 878.800.000 đồng, tổng cộng tiền gốc và lãi 5.058.800.000 đồng cho bà D. Ông P xác định việc giao dịch vay tiền giữa bà D và bà L thì ông P (chồng bà L) không biết đến việc vay mượn này, nên ông P không đồng ý việc bà D yêu cầu ông P có nghĩa vụ liên đới trả cùng bà L trả số tiền vay cho bà D.

Bản án dân sự sơ thẩm số 139/2024/DS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân gia đình, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Thùy D yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Văn P liên đới trả tiền vay còn nợ vốn là 4.180.000.000 đồng và tiền lãi là 1.005.462.000 đồng. Tổng cộng là 5.185.462.000 đồng.

Buộc bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Văn P liên đới trả tiền vay còn nợ vốn là 4.180.000.000 đồng và tiền lãi là 1.005.462.000 đồng. Tổng cộng là 5.185.462.000 đồng cho bà Đặng Thị Thùy D.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.185.462 đồng.

Bà Đặng Thị Thùy D được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.530.000 đồng theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0007402, ngày 20/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử sơ thẩm bà L, ông P kháng cáo không đồng ý với quyết định của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò tuyên xử.

  • + Bà L kháng cáo yêu cầu chấp nhận đồng ý trả cho bà D số tiền vay còn nợ vốn gốc là 900.000.000 đồng theo các biên nhận ngày 11/4/2023, ngày 19/5/2023, ngày 11/9/2023, ngày 21/12/2023 và lãi suất theo quy định.
  • + Ông P kháng cáo không đồng ý với quyết định của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tuyên xử buộc ông P liên đới với bà L trả tiền vay còn nợ vốn là 4.180.000.000 đồng và tiền lãi là 1.005.462.000 đồng cho bà Đặng Thị Thùy D.

Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt chị T đại diện cho bà D, ông T1 đại diện cho bà L, ông P có mặt. Các đương sự khẳng định đã cung cấp thêm đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án.

Ông T1 đại diện cho bà L, ông P trình bày: Đối với bà L đã cung cấp các chứng cứ phản bác yêu cầu khởi kiện của bà D rồi nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các giấy tờ để tính toán lại theo quy định pháp luật. Đối với ông P đã thừa nhận đoạn ghi âm là anh P có nói chuyện với bà D về việc số tiền nợ nhưng số nợ cụ thể là bao nhiêu thì không biết nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không buộc anh P liên đới trách nhiệm với bà L trả nợ cho bà D.

Chị T đại diện cho bà D trình bày: Các phần nợ đã được đối chiếu giữa bà D với bà L; các số tiền bà L chuyển khoản thì bà D đã chứng minh được không liên quan đến 11 biên nhận nợ đang tranh chấp. Ông P đã được bà D thông báo về nghĩa vụ liên đới theo đoạn ghi âm nói chuyện giữa bà D và bà L. Ông P cũng đã

đồng ý trả nợ cho bà D nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên khởi kiện yêu cầu đối với ông P. Do đó không đồng ý theo kháng cáo bà L, ông P ; tuy nhiên bà D đồng ý tự nguyện giảm số tiền 10.462.000 đồng, chỉ yêu cầu bà L, ông P trả số tiền 5.175.000.000 đồng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông P, bà L; tuy nhiên công nhận sự giãm lãi của chị D số tiền 10.462.000 đồng nên đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét về thủ tục, thành phần những người tham gia tố tụng; những người tham gia tiến hành tố tụng các đương sự thống nhất không có yêu cầu hay khiếu nại gì.

[2] Về nội dung tranh chấp hợp đồng vay tiền: Nguyên đơn bà Đặng Thị Thùy D khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim L và ông Huỳnh Văn P phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà D số tiền vay gốc và lãi là 5.185.000.000 đồng. Bà L cho rằng bà L có vay của bà D, nhưng đã trả cho bà D 07 biên nhận vào năm 2022, còn nợ 04 biên nhận năm 2023 mà đến nay bà L, ông P (là chồng bà L) chưa trả cho bà D.

[3] Qua thu thập, đánh giá chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Căn cứ vào 11 biên nhận gồm: biên nhận ngày 12/3/2022, ngày 27/3/2022, ngày 04/4/2022, ngày 11/4/2022, ngày 15/7/2022, ngày 27/7/2022, ngày 27/8/2022, ngày 11/4/2023, ngày 19/5/2023, biên nhận 01/9/2023 và biên nhận ngày 21/12/2023 mà phía nguyên đơn bà D cung cấp đều thể hiện bà Nguyễn Thị Kim L có viết và ký họ tên trong các biên nhận mà bà D cung cấp; hơn nữa bà L cũng thừa nhận chữ viết và chữ ký tên trong các biên nhận nêu trên là của bà L. Như vậy, có đủ cơ sở xác định việc cho vay này là có thật. Đây là tình tiết không cần phải chứng minh quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xét yêu cầu của bà D yêu cầu bà L trả tiền vay còn nợ vốn gốc 4.180.000.000 đồng; bà D có cho bà L vay tiền có làm biên nhận cụ thể, bà L có ký tên, thể hiện sự tự nguyện thỏa thuận hai bên, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, lúc giao kết vay hai bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên hợp đồng vay được xem là hợp pháp. Nhưng quá trình thực hiện hợp đồng bà L chưa trả đầy đủ tiền cho bà D là vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự.

Nguyên đơn bà D trình bày do bà D và bà L, làm ăn kinh doanh mua bán tạp hóa, còn ông P làm ở Ủy ban nhân dân thị trấn L nên quen biết và thân thiết như chị em trong gia đình. Vì vậy, bà D cho bà L vay tiền thỏa thuận lãi suất 1%/ tháng (thỏa thuận miệng), mục đích bà L, ông P vay tiền để đầu tư kinh doanh; từ khi bà L vay đến nay thì bà D chưa nhận bất kỳ số tiền gốc và tiền lãi mà bà L đã trả cho bà D; sở dĩ bà D chưa nhận vốn vay và tiền lãi là do ngoài những khoản

vay này thì bà D có cho bà L, ông P vay những khoản vay khác để bà L, ông P cho người khác vay lại để kiếm tiền lãi trang trải cuộc sống; các khoản vay này do các bên tin tưởng nhau nên không có làm biên nhận. Bà L, ông P vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà D yêu cầu vợ chồng bà L, ông P có nghĩa vụ liên đới trả tiền gốc và tiền lãi nêu trên nhưng bị đơn vẫn không thực hiện mặc dù bà D đã rất nhiều lần yêu cầu.

Bị đơn bà L cho rằng bà L đã trả cho nguyên đơn bà D gồm bảy biên nhận vay tiền vào năm 2022; bà L cung cấp bảng sao kê 69 lần chuyển khoản của Ngân hàng vào ngày 01/8/2022 đến ngày 17/5/2024 với số tiền 4.837.705.000 đồng, xuất trình các chứng từ chuyển khoản để chứng minh, nhưng bà L cũng không xác định được đã trả của những khoản vay nào, ngoài ra không xuất trình thêm các chứng cứ nào khác. Tuy nhiên, nội dung này phía nguyên đơn bà D không thống nhất, bà D thừa nhận là bị đơn bà L có chuyển khoản cho bà D với số tiền trong bảng sao kê như đại diện hợp pháp bị đơn trình bày, nhưng đây là giao dịch của những khoản vay khác và nội dung các chứng từ chuyển khoản đều không ghi rõ nội dung giao dịch là để trả khoản nợ như bị đơn trình bày. Đồng thời, phía nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu liên quan đến các giao dịch khác để chứng minh giữa bị đơn và bà D có nhiều lần chuyển khoản qua lại phục vụ các giao dịch khác. Đối chiếu với các tài liệu là chứng từ chuyển khoản của Ngân hàng V giữa bà D với bà L mà hai bên đã cung cấp và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhận thấy các tài liệu này phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn bà D là có cơ sở đối chiếu với các bảng sao kê thì các nội dung chuyển khoản đều không có nội dung chuyển khoản số tiền nào hết hoặc văn bản nào, giấy tờ nào xác nhận bà L đã trả tiền cho bà D. Vì vậy, các lần chuyển khoản này xác định đó là số tiền vay khác, của giao dịch khác (có thể khoản vay nóng bên ngoài).

Ngoài ra, nguyên đơn nại ra số tiền đó là số tiền vay khác mà bà D đã cho vay song song cùng thời điểm cho bà L vay các khoản vay nêu trên; các tin nhắn Zalo hội thoại giữa bà D và bà L thì cũng không có tin nhắn nào xác nhận của nguyên đơn là bị đơn bà L đã trả xong các khoản vay cho nguyên đơn bà D. Đồng thời, việc nguyên đơn bà D còn giữ bản chính các biên nhận gốc theo nguyên tắc là khi bên vay trả xong tiền vay thì bên cho vay phải trả lại biên nhận cho bên vay. Hơn nữa, bà L và lý do mà phía bị đơn không xác định được nội dung chuyển khoản là để trả cho các khoản vay nào của biên nhận nào, đồng thời cũng không có chứng cứ gì chứng minh. Vì vậy lời khai nại của đại diện hợp pháp của bị đơn cho rằng bà L đã trả cho bà D bảy biên nhận vào năm 2022 là không có căn cứ để chấp nhận.

Do vậy có đủ cơ sở xác định việc bị đơn bà L chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ gốc, và còn nợ nguyên đơn bà D số tiền nợ gốc là 4.180.000.000 đồng, nên chấp nhận yêu cầu của bà D là có căn cứ.

[4] Xét yêu cầu tính lãi: Bà D yêu cầu bà L trả tiền lãi với lãi suất là 0,83/tháng đối với các khoản vay gốc 4.180.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 23/12/2024 là 1.005.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày việc bà D cho bà L vay với lãi suất 1%/tháng là không chính xác có khi hơn 30%/

tháng, nhưng bà L cũng không có chứng cứ gì chứng minh; hơn nữa bà L cũng không tranh chấp, hay khiếu nại gì về phần lãi suất mà bà L đã đóng tiền gốc và tiền lãi trong bảng sao kê đã trả cho bà D; đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu lãi suất 0,83%/tháng thì phía bị đơn không ý kiến, đề nghị xem xét lãi suất theo quy định pháp luật.

Xét thấy: Nguyên đơn trình bày phần lãi suất là 1%/ tháng là phù hợp với quy định pháp luật. Tuy nhiên, nguyên đơn bà D tự nguyện giảm lãi suất là 0,83%/ tháng là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận. Vì vậy, xác định lại phần tiền lãi theo lãi suất 0,83%/tháng cụ thể như sau:

  1. Ngày 12/3/2022, số tiền vay 450.000.000 đồng, đến ngày 23/12/2024 là 34 tháng tiền lãi 126.990.000 đồng.
  2. Ngày 27/3/2022, số tiền vay 430.000.000 đồng; đến ngày 23/12/2024 là 33 tháng tiền lãi 117.777.000 đồng.
  3. Ngày 04/4/2022, số tiền vay 1.200.000.000 đồng; đến ngày 23/12/2024 là 33 tháng; tiền lãi 328.680.000 đồng.
  4. Ngày 11/4/2022, số tiền vay 200.000.000 đồng; đến ngày 23/12/2024 là 33 tháng; tiền lãi 54.780.000 đồng
  5. Ngày 15/7/2022, số tiền vay 550.000.000 đồng; đến ngày 23/12/2024 là 30 tháng; tiền lãi 136.950.000 đồng.
  6. Ngày 27/7/2022, số tiền vay 250.000.000 đồng đến ngày 23/12/2024 là 29 tháng; tiền lãi 60.175.000 đồng.
  7. Ngày 27/8/2022, số tiền vay 200.000.000 đồng, đến ngày 23/12/2024 là 28 tháng; tiền lãi 46.480.000 đồng.
  8. Ngày 11/4/2023, số tiền vay 300.000.000 đồng, đến ngày 23/12/2024 là 21 tháng; tiền lãi 52.290.000 đồng.
  9. Ngày 19/5/2023, số tiền vay 200.000.000 đồng, đến ngày 23/12/2024 là 20 tháng; tiền lãi 33.200.000 đồng.
  10. Ngày 01/9/2023, số tiền vay 250.000.000 đồng, đến ngày 23/12/2024 là 16 tháng; tiền lãi 33.200.000 đồng.
  11. Ngày 21/12/2023, số tiền vay 150.000.000 đồng, đến ngày 23/12/2024 là 12 tháng; tiền lãi 14.940.000 đồng.

Như vậy, tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 5.185.462.000 đồng.

[5] Xét yêu cầu nguyên đơn bà D yêu cầu ông P có nghĩa vụ liên đới cùng bà L trả nợ tiền vay gốc và tiền lãi là 5.185.462.000 đồng cho bà D. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho ông P. Ông P cũng được Tòa án thông báo toàn bộ nội dung yêu cầu của bà D trong vụ án, cũng như thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 21/10/2024 của Tòa án đối với vụ án. Nhưng ông P không cung cấp ý kiến phản bác, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì và cũng không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Bà L cho rằng việc bà L vay tiền của bà D thì ông P không hay biết và ông P cũng không có ký tên biên nhận vay tiền nên bà L không đồng ý liên đới cùng ông P trả nợ cho bà D.

Xét thấy lời của bà L là không có cơ sở, bởi vì: Căn cứ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh số 51.1.8003942 ngày 19/10/2022 (ngành, nghề kinh doanh Mua bán tạp hóa, thuốc lá nội, rượu, bia, nước giải khát) và Trích lục kết hôn số 28/2024/TLKH-BS ngày 11/12/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn L thì bà L, ông P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, số 17/2006 ngày 03/4/2006. Tại thời điểm, bà D cho vay tiền đến nay thì bà L, ông P là vợ chồng, và vẫn còn là vợ chồng, không có ly hôn và hiện vẫn đang sống chung, tuy trong các biên nhận vay tiền có thể hiện bên vay là bà Nguyễn Thị Kim L, nhưng ông P không có ký tên vào biên nhận mà nguyên đơn đã cung cấp cho Toà án nhưng mục đích của việc vay tiền là để đầu tư kinh doanh phục vụ nhu cầu thiết yếu, sinh hoạt trong gia đình và theo Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Xác định đây là những khoản nợ chung của vợ chồng bà L, ông P; bà L vay tiền nhằm mục đích kinh tế gia đình và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; mặt khác, việc vay tiền là giao dịch dân sự thông thường thì ông P (là chồng) vẫn phải có nghĩa vụ chung trong trường hợp chỉ có bà L (là vợ) thực hiện giao dịch theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Vì vậy, ông P cũng phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà L đối với khoản nợ nêu trên. Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn bà D là có căn cứ nên chấp nhận, buộc ông Huỳnh Văn P có nghĩa vụ liên đới với bà Nguyễn Thị Kim L trả tiền vốn vay gốc và tiền lãi tổng cộng là 5.185.462.000 đồng cho nguyên đơn bà D là phù hợp theo quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự.

Từ những phân tích trên nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà D. Đồng thời căn cứ vào đây để quyết định chi phí, án phí các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm bà L kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm về số tiền phải trả và ông P kháng cáo về trách nhiệm liên đới. Chị T đại diện cho ông T2 trình bày việc kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

  • + Đối với kháng cáo của bà L thì bà L không cung cấp chứng cứ gì mới đối với số tiền chuyển khoản 02 bên, bà L cũng không tính toán được nêu ra chứng minh số tiền nào đã trả trong 11 biên nhận mà bà D đang khởi kiện nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L là có căn cứ.
  • + Đối với ông P kháng cáo cho rằng ông không biết nên không có trách nhiệm liên đới cùng bà L trả nợ cho bà D. Tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án đã cung cấp bản ghi âm hội thoại giữa bà D và ông P trao đổi về số tiền nợ. Ông P cũng đã xác định nội dung đoạn ghi âm đúng là giọng nói của ông P, không có ý kiến phản đối gì về việc trả nợ cho bà D. Do đó không chấp nhận kháng cáo của ông P về nghĩa vụ liên đới là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm chị T đại diện bà D khẳng định các khoản tiền chuyển khoản đã được đối chiếu, bà D đã có văn bản ý kiến về các khoản tiền do bà L chuyển khoản không có liên quan đến 11 biên nhận mà bà D khởi kiện. Đoạn ghi âm được xác định ông P đồng ý trả nợ đúng là giọng nói của ông P. Tuy nhiên bà D đồng ý giảm số tiền 10.462.000 đồng cho bà L, ông P; bị đơn bà L,

ông P thống nhất việc giãm số tiền lãi này nên công nhận sự tự nguyện của bà D, giảm cho bà L, ông P số tiền này. Số tiền bà L, ông P còn phải trả cho bà D là 5.175.000.000 đồng nên sửa một phần bản án sơ thẩm là đúng theo quy định pháp luật.

[6] Xét Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà L, ông P; công nhận sự tự nguyện của bà D, sửa một phần bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo của ông P; chấp nhận một phần kháng cáo của bà L, sửa một phần bản án sơ thẩm theo sự tự nguyện giảm số tiền lãi của nguyên đơn. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm:

  • + Do sửa bản án sơ thẩm về số tiền bà L, ông P trả cho bà D nên sửa một phần án phí sơ thẩm. Bà L không phải chịu án phí phúc thẩm.
  • + Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nghĩa vụ buộc liên đới nên ông P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận một phần kháng cáo bà Nguyễn Thị Kim L.
  • - Không chấp nhận kháng cáo ông Huỳnh Văn P.
  • - Công nhận sự tự nguyện của bà Đặng Thị Thùy D.
  • - Sửa một phần bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Thùy D yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Văn P liên đới trả tiền vay còn nợ vốn là 4.180.000.000 đồng và tiền lãi là 995.000.000 đồng. Tổng cộng là 5.175.000.000 đồng.

Buộc bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Văn P liên đới trả tiền vay còn nợ vốn là 4.180.000.000 đồng và tiền lãi là 995.000.000 đồng. Tổng cộng là 5.175.000.000 đồng cho bà Đặng Thị Thùy D.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Kim L, ông Huỳnh Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.175.000 đồng.

- Bà Đặng Thị Thùy D được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.530.000 đồng theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0007402 ngày 20/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Kim L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, bà L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005488 ngày 17/2/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Ông Huỳnh Văn P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng nhưng được khấu từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005489 ngày 17/2/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV và THA TAT;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp;
  • - TAND huyện Lấp Vò;
  • - CCTHADS huyện Lấp Vò;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 332/2025/DS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 332/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Đặng Thị Thùy D BĐ: Nguyễn Thị Kim L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger