|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 332/2025/DS-PT Ngày: 10-4-2025 “V/v Tranh chấp đòi tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Anh Minh
Ông Phan Nguyên Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Mai Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 283/2025/TLPT-DS ngày 05/3/2025 về việc “Tranh chấp đòi tài sản” do Bản án dân sự sơ thẩm số 531/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo và kháng nghị; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1394/2025/QĐXXPT-DS ngày 20 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- 1/- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình P, sinh năm: 1989; địa chỉ: A Đường số I, KDC B, ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
- 2/- Bị đơn: Ông Trần Quang L, sinh năm: 1989; địa chỉ: Số A hẻm S, Đường L, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1975; địa chỉ: Số A đường C, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm:
Ý kiến trình bày của nguyên đơn- ông Nguyễn Đình P (Viết tắt là “ông P”) tại Đơn khởi kiện ngày 01/02/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm như sau:
Đầu năm 2022, nguyên đơn có quen biết và kết bạn với bị đơn, ông Trần Quang L là vận động viên thể thao võ thuật tổng hợp MMA. Bị đơn yêu cầu nguyên đơn làm trợ lý giúp cho bị đơn để đi thi đấu các giải võ thuật ở P, Hà Nội và đi tập luyện ở Thái Lan. Nguyên đơn đã nhận lời tham gia làm trợ lý cho bị đơn. Qua quá trình làm trợ lý, hỗ trợ giúp bị đơn, bị đơn không có tiền nên yêu cầu nguyên đơn ứng trước cho mượn tiền để lo chi phí cho việc đi lại, ăn ở, tập luyện cũng như điều trị bệnh do quá trình thi đấu bị chấn thương.
Các khoản tiền nguyên đơn đã ứng cho bị đơn mượn tổng cộng số tiền là: 205.844.966 (Hai trăm lẻ năm triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn chín trăm sáu mươi sáu) đồng; cụ thể: Chi phí đi lại và tập luyện tại Thái Lan số tiền 93.151.300 đồng; chi phí đi, lại ăn ở cho trận thi đấu ở P số tiền 19.874.666 đồng; chi phí đi, lại ăn ở cho trận thi đấu bán kết ở Hà Nội số tiền 34.568.000 đồng; mua xe đạp - Điều trị bệnh và quay quảng cáo số tiền 58.251.000 đồng.
Nguyên đơn đã nhận số tiền bị đơn được tài trợ là 85.000.000 đồng.
Như vậy, bị đơn còn thiếu nguyên đơn tổng số tiền làm tròn là 120.844.000 (Một trăm hai mươi triệu, tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng.
Bị đơn cam kết với nguyên đơn là sau khi hoàn tất công việc về Thành phố Hồ Chí Minh sẽ thanh toán lại cho nguyên đơn. Tuy nhiên bị đơn không trả cho nguyên đơn. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Quang L phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 120.844.000 (Một trăm hai mươi triệu, tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng, trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật cùng với lãi suất chậm thực hiện theo quy định của Ngân hàng N.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền mua xe đạp là 48.700.000 đồng, những nội dung khác vẫn giữ nguyên, cụ thể: Tổng số tiền nguyên đơn đã chi cho bị đơn làm tròn là 205.844.000 đồng, sau khi trừ số tiền bị đơn được nhận tài trợ khi đấu giải là 85.000.000 đồng và số tiền mua xe đạp là 48.700.000 đồng, số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả là 72.144.000 đồng.
Ý kiến trình bày của phía bị đơn – Người đại diện theo uỷ quyền là bà Nguyễn Thị Kim O như sau: Giữa bị đơn và nguyên đơn không có việc vay mượn tiền như nguyên đơn trình bày, và cũng không có văn bản thoả thuận nào về việc hợp tác với nhau giữa hai bên. Những nội dung trao đổi tại Vi bằng do nguyên đơn cung cấp cũng không thể hiện số tiền bị đơn mượn của nguyên đơn có sự thừa nhận của bị đơn. Trong quá trình hai bên đi cùng nhau thì mọi chi phí qua lại giữa hai bên đã được giải quyết ngay tại thời điểm đó và bị đơn còn đưa số tiền tài trợ là 85.000.000 đồng cho nguyên đơn nên phía bị đơn không còn nợ chi phí nào, các hóa đơn nguyên đơn cung cấp trong vụ án đều được thanh toán dưới tên nguyên đơn, không được bị đơn ký xác nhận các chi phí này. Do bị đơn thấy nguyên đơn có những hành động không phù hợp với bị đơn nên bị đơn không muốn duy trì mối quan hệ tình bạn này nữa nên nguyên đơn tức giận khởi kiện vô căn cứ làm ảnh hưởng đến uy tín danh dự của bị đơn, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 30/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xét xử và ban hành Bản án sơ thẩm số 531/2024/DS-ST theo đó tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Trần Quang L phải trả cho ông Nguyễn Đình P số tiền 72.144.000 đồng.
- Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền mua xe đạp là 48.700.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên xử án phí sơ thẩm.
Ngày 14/10/2024, nguyên đơn kháng cáo và ngày 15/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 19/QĐ-VKS-DS theo hướng sửa Bản án sơ thẩm số 531/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn trình bày ý kiến như sau: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo yêu cầu sửa Bản án số 531/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; nguyên đơn đồng ý một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè về việc sửa bản án sơ thẩm nhưng không đồng ý với việc sửa bản án đối với số tiền theo kháng nghị. Bị đơn và nguyên đơn có quan hệ hợp tác trong việc tập huấn và thi đấu võ thuật tại P, Hà Nội và Thái Lan; các bên thống nhất nguyên đơn ứng tiền chi trả các khoản ăn uống, đi lại taxi- Máy bay, chi phí chưa trị chấn thương; khách sạn, quảng cáo hình ảnh; thực tế nguyên đơn đã ứng tổng số tiền 120.844.000 đồng (Làm tròn); sau đó bị đơn và nguyên đơn phát sinh mâu thuẫn nhỏ; bị đơn không trả cho nguyên đơn các chi phí như đã thỏa thuận. Số tiền tài trợ của các nhà tài trợ cho bị đơn mà nguyên đơn nhận thay tổng cộng 85.000.000 đồng. Phía bị đơn cho rằng đã trả cho nguyên đơn tất cả các khoản chi phí mà nguyên đơn đã ứng tiền ra chi trả cho bị đơn sau khi trừ đi số tiền bị đơn được tài trợ là 85.000.000 đồng, bị đơn đã trả thừa cho nguyên đơn số tiền 50.000.000 đồng là không đúng sự thật. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không chứng minh được việc bị đơn đã thanh toán lại cho nguyên đơn các khoản chi phí đi lại, ăn, ở khách sạn, chi phí máy bay, chữa trị chấn thương, quảng cáo,... mà nguyên đơn đã lập vi bằng các tin nhắn zalo và các hóa đơn mua hàng, chi phí tiếp khách theo yêu cầu của bị đơn trong các lần tập huấn và thi đấu võ thuật AMA tại Hà Nội, P và Thái Lan. Do vậy, trình bày của phía bị đơn là không có căn cứ.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày ý kiến như sau: Bị đơn và nguyên đơn có quan hệ hợp tác trong việc tập huấn và thi đấu võ thuật tại P, Hà Nội và Thái Lan đúng như nguyên đơn trình bày. Do nguyên đơn sử dụng hình ảnh của bị đơn để làm T và bị đơn không đồng ý nên hai bên ngừng không hợp tác nữa. Số điện thoại và nội dung tin nhắn Zalo qua lại giữa nguyên đơn và bị đơn tại vi bằng do nguyên đơn lập giao nộp cho Tòa án là đúng của bị đơn; tuy nhiên, bị đơn và nguyên đơn không có thỏa thuận việc nguyên đơn ứng ra chi trả các khoản đi lại bằng taxi, ăn uống và vé máy bay cho vợ con của nguyên đơn trong chuyến đi Thái Lan do nguyên đơn dẫn vợ con đi theo. Bị đơn chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn các khoản tiền theo tin nhắn zalo. Đối với các khoản tiền ăn uống theo các hóa đơn mà nguyên đơn cung cấp không có chữ ký xác nhận của bị đơn nên không có căn cứ buộc bị đơn phải trả. Thực tế bị đơn đã chi trả các khoản tiền do nguyên đơn yêu cầu sau khi trừ đi số tiền tài trợ 85.000.000 đồng mà các nhà tài trợ cho bị đơn thì bị đơn đã chi trả cho nguyên đơn dư khoảng hơn 50.000.000 đồng. Bị đơn trả tiền cho nguyên đơn bằng tiền mặt nên không cung cấp được chứng từ chứng minh. Đối với chi phí mua xe đạp để bị đơn và nguyên đơn cùng tập luyện chung; sau khi mua xe để xe nhà của bị đơn nhưng nguyên đơn đã lấy lại. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện, kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn, bác kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:
- + Về tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quyền hạn, nhiệm vụ và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa.
- + Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị đơn đã thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng quy định.
- + Về tính hợp pháp của kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè kháng nghị theo đúng quy định tại Điều 281 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- + Về nội dung:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện: Nguyên đơn có thực hiện các yêu cầu của bị đơn, trên cơ sở phục vụ nhu cầu cá nhân của bị đơn khi thi đấu các giải đấu trong và ngoài nước. Bị đơn đi thi đấu, cần người chăm sóc để phục vụ nhu cầu cá nhân, có yêu cầu nguyên đơn chi tiền tạm ứng để thực hiện nhiều nội dung cho bị đơn như: đặt mua vé máy bay, phòng ở lưu trú, trong đó còn phải ứng chi mua vé máy bay, đặt phòng ở cho cả Huấn luyện viên (ông H), anh ruột (ông B) đi theo bị đơn để huấn luyện bị đơn, nguyên đơn còn phục vụ mua thức ăn, đặt phòng - thanh toán tiền phòng lưu trú, đặt phòng cho bị đơn tập luyện chuyển bị thi đấu, trả tiền bị đơn mời bạn bè ăn, thanh toán tiền bị đơn khám chữa bệnh chấn thương sau thi đấu... Các nội dung nguyên đơn chi tạm ứng đều không thể hiện phục vụ, chi dùng cho nhu cầu cá nhân của nguyên đơn, mà các hóa đơn chứng từ dịch vụ, hàng hóa nguyên đơn cung cấp đều phù hợp với tin nhắn mà bị đơn yêu cầu nguyên đơn thực hiện cho bị đơn. Tại cấp sơ thẩm, đại diện bị đơn cũng thừa nhận nguyên đơn có bỏ ra các chi phí này để tổng hợp lại cho bị đơn thanh toán sau và đã thanh toán lại cho nguyên đơn, nhưng bị đơn không cung cấp được bất cứ tài liệu, thông tin chứng minh việc đã thanh toán các khoản tiền này cho nguyên đơn. Mà yêu cầu nguyên đơn phải cung cấp các hóa đơn này phải ghi tên ông L, có chữ ký xác nhận của ông L trên các hóa đơn này là không có căn cứ để chấp nhận, bởi nội dung trao đổi tin nhắn giữa 2 người thể hiện việc ông P đi mua sắm, chi ứng tiền phục vụ, chăm sóc ông L nhằm mục đích để ông L tập trung, yên tâm thi đấu. Các khoản chi và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đều có cơ sở, phù hợp thực tế, có căn cứ để chấp nhận. Như vậy, ông P đã bỏ công sức đi cùng ông L, hỗ trợ chăm sóc, tạm ứng tiền chi cho hoạt động cá nhân của ông L, nên ông L phải có nghĩa vụ thanh toán lại các khoản tiền này cho ông P. Việc Tòa cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P là không đảm bảo quyền lợi hợp pháp và thực tế của ông P.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, tuy nhiên do xác định số tiền hoàn trả chưa chính xác, nên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bổ sung thêm về phần chấp nhận tiền chi phí khác theo yêu cầu của nguyên đơn, cụ thể: tổng số tiền ông P đã ứng chi là 205.844.966 đồng - tiền bị đơn được tài trợ 85.000.000 đồng = còn lại 120.844.966 đồng (làm tròn 120.844.000 đồng). Ghi nhận việc nguyên đơn rút yêu cầu về số tiền 48.700.000 đồng mua xe đạp (do bị đơn trả lại xe), chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại 72.144.000 đồng. Do đó, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng nghị của VKSND huyện Nhà Bè; chấp nhận đề nghị phần bổ sung kháng nghị về chấp nhận số tiền nguyên đơn yêu cầu: Sửa án sơ thẩm, buộc bị đơn thanh toán 72.144.000 đồng cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 14/10/2024, nguyên đơn có Đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm số 531/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè là trong thời hạn và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm nêu trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn đối với kết quả giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm
Xét, tại biên bản phiên tòa sơ thẩm thể hiện (BL 173-178), khi chủ tọa phiên tòa hỏi người đại diện bị đơn thì người đại diện của ông L xác định: “Giữa nguyên đơn và bị đơn không có thỏa thuận vay mượn tiền. Những tin nhắn về việc nhờ nguyên đơn mua vé máy bay hay điều trị,.... Đều được bị đơn thanh toán sau khi hoàn thành công việc giữa hai bên. Bị đơn thanh toán những chi phí theo tin nhắn bằng tiền mặt cho nguyên đơn; Tài khoản Z mà nguyên đơn cung cấp là tài khoản zalo bị đơn sử dụng, và những tin nhắn trong vi bằng là giữa nguyên đơn và bị đơn.
Xét, Vi bằng số 78/2023/VB-TL ngày 02/3/2023 của Văn phòng T2 và đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp Bút lục 12 đến Bút lục 52; gồm: Vé may báy điện tử, hóa đơn bán hàng, hóa đơn bán lẻ, thông tin chuyển khoản thanh toán qua ngân hàng A, V, Hóa đơn thanh toán thể hiện các thông tin tiền phòng, T1, nước uống, giặt là ngày 16/10/2022 đến ngày 24/10/2022, Phiếu bán hàng của Công ty cổ phần C, phiếu bán hành kiêm bảo hành Điện tử iMa S, phiếu thu tiền dịch vụ khám bệnh mang tên Trần Quang L, Hóa đơn thanh toán tiền ăn mà nguyên đơn cung cấp và giải trình các khoản chi phí tại các bút lục từ 04 đến 10 của nguyên đơn có trong hồ sơ vụ án;... có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có trao đổi, thỏa thuận và thống nhất nguyên đơn hỗ trợ cho bị đơn trong thời gian tập luyện, thi đấu các giải thể thao Võ Thuật tổng hợp AMA tổ chức tại Hà Nội, P và Thái Lan; theo đó, ông P (nguyên đơn) tạm ứng tiền để chi trả các chi phí ăn, ở khách sạn, vé máy bay, đi lại, chi phí điều trị, thuốc trong quá trình tập luyện và thi đấu của ông L. Thực tế, nguyên đơn đã ứng tiền ra chi trả cho các chi phí ăn, ở khách sạn, khám chữa bệnh (chấn thương) trong quá trình thi đấu và tập luyện, chi phí di chuyển, đi lại (Taxi và vé máy bay); chi phí quảng cáo hình ảnh của ông L; tổng số tiền là: 157.144.000 đồng; cụ thể: Chi phí đi lại và tập luyện tại Thái Lan (Trong khoảng thời gian từ ngày 21 và ngày 30/11/2022 đến các ngày 1-2-3-6-7-10-14-15-30/12/2022 và ngày 05/01/2023) số tiền 93.151.300 đồng; tại P (các ngày 04-14-22/11/2022 và 25-26-27-28/11/2022) số tiền 19.874.666 đồng và tại Hà Nội (Ngày 14/10/2022 và từ ngày 18/10/2022 đến ngày 27/10/2022) số tiền 34.568.000 đồng; chi trả chi phí điều trị chấn thương và quay quảng cáo số tiền 58.251.000 đồng. Số tiền tài trợ của các nhà tài trợ cho ông L mà ông P đã nhận được ngày 13/11/2022, ngày 30/11/2022, ngày 05/12/2022 là 85.000.000 đồng.
Xét, phía ông L (bị đơn) không thừa nhận các khoản chi phí ăn ở khách sạn, chi phí đi lại bằng Taxi, máy bay theo các hóa đơn, chứng từ do nguyên đơn cung cấp trong khoảng thời gian tập luyện và thi đấu nêu trên. Nhưng bị đơn lại cũng không chứng minh được bị đơn tự bỏ chi phí, ăn ở khách sạn, chi phí đi lại bằng Taxi, máy bay,...trong quá trình tập luyện và thi đấu. Mặt khác các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp trong hồ sơ vụ án không thể hiện có việc nguyên đơn yêu cầu bị dơdn thanh toán chi phí vé máy bay cho vợ và con của nguyên đơn trong chuyến đi thi đấu tại Thái Lan. Mặt khác, phía ông L cho rằng ông L đã trả lại các chi phí theo yêu cầu cho ông P sau khi trả tiền mặt trừ đi số tiền tài trợ là 85.000.000 đồng, thì bị đơn trả dư cho nguyên đơn số tiền hơn 50.000.000 đồng; tuy nhiên, phía ông L cũng không chứng minh được đã trả lại cho ông P số tiền 72.144.000 đồng còn lại sau khi trừ tiền tài trợ. Do vậy, không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận trình bày này của bị đơn là có cơ sở.
Theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự về tình tiết sự kiện không phải chứng minh: Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.
Xét, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm phía bị đơn đều có lời khai thống nhất thừa nhận các tin nhắn bằng Zalo mà phía nguyên đơn lập vi bằng cung cấp cho Tòa là của nguyên đơn và bị đơn; nhưng cho rằng các hóa đơn tài liệu mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn không có chưa ký xác nhận cả bị đơn không được xác định là chứng cứ hợp pháp. Tuy nhiên, phía bị đơn lại xác nhận đã chi trả các chi phí theo yêu cầu của nguyên đơn bằng tiền mặt nên không cung cấp chứng cứ chứng minh được cho Tòa án. Từ sự thừa nhận của bị đơn và trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định các chi phí mà nguyên đơn đã chi trả theo yêu cầu của bị đơn là có căn cứ. Nguyên đơn yêu cầu ông L phải trả số tiền 72.144.000 đồng là có căn cứ.
[3] Xét kháng nghị của VKSND huyện Nhà Bè
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 19/QĐ-VKS-DS ngày 15/4/2024 của VKSND huyện Nhà Bè đề nghị sửa Bản án sơ thẩm số 531/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xác định thực tế, ông P đã ứng trước cho ông L gồm: tiền điều trị 1.150.000 đồng, tiền vé máy bay 10.653.500 đồng; tổng cộng là 11.803.500 đồng. Đồng thời qua xem xét các biên nhận, sao kê tài khoản ngân hàng do nguyên đơn đã cung cấp, có cơ sở xác định ông P cũng ứng trước cho ông L các khoản tiền sau: tiền mua thuốc ngày 15/11/2022 là 3.325.000 đồng; tiền châm cứu ngày 16/11/2022 là 2.545.000 đồng; tiền điều trị ngày 18/11/2022 là 711.000 đồng; tiền đổi vé máy bay ngày 28/11/2022 là 700.000 đồng; tiền mua vé máy bay là 2.892.000 đồng; tổng cộng là 10.173.000 đồng. Tuy nhiên, sao kê tài khoản Ngân hàng của ông P cũng thể hiện ông đã nhận tiền tài trợ gửi cho ông L là 10.000.000 đồng (ngày 13/11/2022), từ những cơ sở nêu trên, căn cứ Điều 166 Bộ Luật Dân sự năm 2015, có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn hoàn trả tổng số tiền là: 11.803.500 + 10.173.000 – 10.000.000 = 11.976.500 đồng là đúng nhưng chưa đầy đủ như đã phân tích tại Mục [2] nêu trên.
Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đánh giá đầy đủ các tài liệu chứng cứ và thừa nhận của bị đơn tại phiên tòa dẫn đến không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ các tài liệu, chứng cứ đã phân tích, trên cơ sở quy định của pháp luật và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; có căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè về việc sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè.
[4] Về án phí dân sự: Yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của ông P được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đình P
- Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 531/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình Phú
- Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền mua xe đạp là 48.700.000 đồng.
Buộc ông Trần Quang L phải trả cho ông Nguyễn Đình P số tiền 72.144.000 (Bảy mươi hai triệu, một trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng.
- Về án phí dân sự
- Án phí dân sự sơ thẩm: 3.607.000 đồng ông Trần Quang L phải nộp tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
- Án phí dân sự phúc thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Trần Quang L phải nộp tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Trả lại cho ông Nguyễn Đình P số tiền 3.021.000 (Ba triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013088 ngày 23/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Trả lại cho ông Nguyễn Đình P số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018217 ngày 16/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phượng |
Bản án số 332/2025/DS-PT ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 332/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Đình P BĐ: Trần Quang L Quyết định: 1. Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đình P 2. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè. 3. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 531/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể: 3.1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình P Buộc ông Trần Quang L phải trả cho ông Nguyễn Đình P số tiền 72.144.000 (Bảy mươi hai triệu, một trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng. 3.2. Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền mua xe đạp là 48.700.000 đồng.
