Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 332/2024/HSST

Ngày: 17/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Hương Thủy
  2. Bà Nguyễn Thị Chi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 289/2024/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 364/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Trần Hoàng A; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: M; Sinh năm 1998 tại Hậu Giang; Nơi đăng ký HKTT: B, P, Hậu Giang; Tạm trú: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị Bé N; Vợ: Đoàn Ngọc Mỹ H1; Có 01 người con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sư: Không: Nhân thân: Ngày 11/6/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 2 xử phạt 06 tháng tù về tội” Trộm cắp tài sản” Đã chấp hành xong hình phạt tù và nộp án phí; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Nguyễn Quốc N1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1988 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 48 đường C, tổ C, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: A đường N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Sửa xe; Con ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị Kim L; Vợ Huỳnh Thị Tô D ; Có 02 người con lớn sinh năm 2016 và nhỏ sinh năm 2020; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 28/4/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2019 đã nộp án phí; Ngày 02/11/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2022, đã nộp án phí; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/12/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Anh Lê Diệp Anh K, sinh năm 1989 - Cửa hàng trưởng Siêu thị S.

Địa chỉ: 6 N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Thanh D1, sinh năm: 1978
  2. Địa chỉ: B T, phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1962
  4. Địa chỉ: A đường N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Anh Tăng Văn L1, sinh năm 1970
  6. Địa chỉ: 2 N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  7. Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 2008
  8. Đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Kim C

    Địa chỉ: Đường số E, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

  9. Chị Nguyễn Võ Như H2, sinh năm 2008
  10. Đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Kim H3

    Địa chỉ: D đường C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  11. Anh Lê Văn P, sinh năm 1968
  12. Địa chỉ: C N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  13. Ông Cao Văn T2, sinh năm 1962
  14. Địa chỉ: D M, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hoàng A, Nguyễn Ngọc T1 (sinh ngày 20/7/2008), Nguyễn Võ Như H2 (tên gọi khác là M1, sinh ngày 17/9/2008) và H4 (chưa rõ lai lịch) quen biết nhau từ trước. Khoảng 23 giờ ngày 20/11/2023, T1 điều khiển xe mô tô Wave màu xanh rêu biển số 53S9-5580 chở H2, Hoàng A chở H4 trên xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) đến uống nước tại quán ven đường đối diện chung cư C, đường M, phường T, thành phố T. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, thì có T3 (chưa rõ lai lịch) là bạn quen ngoài xã hội điều khiển xe mô tô không rõ biển số đến uống nước cùng nhóm Hoàng A. Trong lúc ngồi tại quán thì T3 hỏi cả nhóm muốn đi kiếm tiền không. Lúc này T1 hỏi kiếm tiền bằng cách nào thì T3 nói đi lấy mấy cái máy thì cả nhóm đồng ý. Đến khoảng 02 giờ ngày 21/11/2023, cả nhóm bắt đầu đi tìm tài sản. Hoàng A điều khiển xe mô tô biển số 53S9-5580 chở T1, H2 điều khiển xe chở H4, T3 đi xe một mình về hướng P, phường L. Đến khoảng 02 giờ 50 phút cùng ngày, khi cả nhóm đến gần cửa hàng S1 tại địa chỉ G đường N, phường L, thành phố T thì T3 chỉ cho cả nhóm thấy 01 máy phát điện để phía ngoài gần cửa ra vào của cửa hàng và nói lấy máy này thì cả nhóm đồng ý. Cả nhóm dừng xe ở giao lộ P-Nguyễn Xiển . T1 và T3 đi bộ lại gần cửa hàng, Hoàng A đi về đường N để canh chừng cho T1 và T3, H4 và Huỳnh đứng tại giao lộ để giữ xe và cảnh giới. Khi đến gần máy phát điện thì T1 thấy anh Cao Văn T2 là bảo vệ siêu thị đang nằm ngủ nên T1 đến kéo máy xuống lòng đường. Sau đó, T3 phụ Tùng đẩy máy phát điện về nơi dựng xe mô tô. Khi đi khoảng 10m thì Hoàng A đến phụ đẩy máy. Do máy nặng nên Hoàng A đến lấy xe mô tô biển số 53S9-5580 chở T1 ngồi phía sau kéo máy phát điện, T3 chạy 01 mình phía sau canh chừng còn H2 điều khiển xe chở H4 và H2 dùng chân đẩy phía sau máy phát điện phụ Tùng. Nhóm của Hoàng A đi về nhà của Nguyễn Quốc N1 (là cậu của H2) tại số A N, phường L, thành phố T. T1 và Hoàng A để máy phát điện trước cửa nhà và dùng tấm bạt che máy lại. T3 nói Hoàng A tìm người mua máy thì Hoàng A đồng ý, T3 ra về.

Đến khoảng 13 giờ ngày 21/11/2023, Nguyễn Quốc N1 ngủ dậy thì thấy Hoàng A nằm ngủ trên sàn nhà, có 01 máy phát điện che bởi tấm bạt nên N1 hỏi Hoàng A máy ở đâu có thì Hoàng A im lặng. N1 phụ Hoàng A kéo máy phát điện để vào trong nhà gần vị trí bếp nấu ăn. Sau đó, Hoàng A tìm người bán máy phát điện nhưng không bán được. Đến ngày 22/11/2023, Hoàng A nhờ N1 bán gấp máy phát điện thì Nam biết rõ máy trên do nhóm của Hoàng A phạm tội mà có. N1 dùng điện thoại lên mạng xã hội tìm kiếm trang “thu mua máy phát điện cũ” và liên lạc với anh Lê Thanh D1 để bán máy. Anh D1 nhờ bạn tên Lê Văn P đi xem máy thì anh P đến chỗ N1. Sau đó, các bên thống nhất giá mua máy là 7.500.000 đồng nhưng N1 nói anh P có ai hỏi thì nói giá 6.500.000 đồng, N1 bớt cho anh P 200.000 đồng thì anh P đồng ý. N1 mượn tải khoản của mẹ tên Nguyễn Thị Kim L và nói anh P chuyển 7.300.000 đồng vào tài khoản của bà L. Anh P nói anh D1 chuyển khoản cho N1 qua tài khoản của bà L thì anh D1 chuyển 7.300.000 đồng vào tài khoản của bà L, ngân hàng V. Sau đó, N1 nói với Hoàng A là bán máy giá 6.500.000 đồng rồi đi rút tiền đưa 6.500.000 đồng cho Hoàng A. Hoàng A đưa hết số tiền trên cho T3, T3 chia lại cho Hoàng A 3.000.000 đồng còn T3 giữ lại 3.500.000 đồng. Hoàng A đưa lại cho N1 300.000 đồng, đưa T1 1.500.000 đồng, Hoàng A đưa tiền cho H4 và H2 nhưng H4 và H2 không nhận, Hoàng A còn giữ 1.200.000 đồng tiêu xài cá nhân. Trước đó, Nam không có căn cước công dân nên không mở tài khoản được nên N1 đã mượn căn cước công dân của bà L là mẹ của N1 để mở tài khoản tại ngân hàng. Sau khi mở tài khoản thì N1 quản lý tài khoản trên, bà L không biết được N1 sử dụng vào mục đích gì.

Anh Cao Văn T2 sau khi thức dậy thì phát hiện bị mất máy phát điện nên báo đến anh Lê Diệp A1 Khoa là cửa hàng trưởng của chi nhánh S2. Ngày 21/11/2023, anh K trình báo đến Công an phường L, thành phố T.

Qua truy xét, ngày 24/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T mời Trần Hoàng A và Nguyễn Quốc N1 đến làm việc, N1 và Hoàng A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố T số 145-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 29/11/2023 kết luận, máy phát điện H5 đã qua sử dụng có giá trị 42.635.670 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 máy phát điện Hữu Toàn G (đã trả lại bị hại)
  • 01 xe mô tô Wave màu xanh rêu biển số 53S9-5580 (biển số giả, không có số khung, số máy).
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung (thu của N1).
  • 01 USB hiện trường vụ trộm.

Kết quả xác minh, xe mô tô biển số 53S9-5580 do anh Tăng Văn L1 đứng tên sở hữu, hiện nay anh L1 vẫn đang sử dụng xe trên. T1 khai xe trên T1 mượn của người anh tên N2. Hiện nay T1 không có mặt tại địa phương để ghi lời khai nên không biết được thông tin người tên N2.

Trách nhiệm dân sự :

Anh Lê Diệp Anh K nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác.

Anh Lê Thành D2 yêu cầu bồi thường số tiền 7.300.000 đồng tiền mua máy phát điện.

Cáo trạng số 285/CT-VKSTPTĐ ngày 30/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Hoàng A, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; truy tố bị cáo Nguyễn Quốc N1 về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Trần Hoàng A và Nguyễn Quốc N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Hoàng A và Nguyễn Quốc N1 như Cáo trạng và Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trần Hoàng A từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc N1 từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong nên không xem xét.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Trần Hoàng A và Nguyễn Quốc N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là khách quan, phù hợp với Biên bản ghi lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra; Bản tự khai của các bị cáo; Lời khai của bị hại; Người làm chứng và các tang vật, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ 50 phút ngày 21/11/2023, Trần Hoàng A cùng Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Võ Như H2, H4, T3 thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 máy phát điện trị giá 42.635.670 đồng của cửa hàng S1 số 742 N, phường L, thành phố T, do anh Lê Diệp Anh K quản lý. Sau đó, nhóm của Hoàng A mang máy về nhà của Nguyễn Quốc N1 cất giấu, N1 biết rõ máy do nhóm Hoàng A phạm tội mà có nhưng vẫn tìm người bán giúp để được cho tiền. Hành vi của Trần Hoàng A đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của Nguyễn Quốc N1 đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thuộc trường hợp là tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật hình sự.

[3] Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét các bị cáo A và N1 là người đã thành niên không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ do đó cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đối với các bị cáo.

[5] Xét về nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng:

[5.1] Về nhân thân: Cả hai bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo Trần Hoàng A từng bị Tòa án nhân dân Quận 2 xử phạt 06 tháng tù về tội” Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Nguyễn Quốc N1 từng bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Hoàng A và Nguyễn Quốc N1 trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

[5.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Đối với Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Võ Như H2, khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 16 tuổi, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

[7] Đối với người tên T3 và H4, hiện nay chưa ghi được lời khai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ làm rõ xử lý sau.

[8] Đối với Nguyễn Thị Kim L, do bà L cho N1 mượn căn cước công dân để mở tài khoản, bà L không quản lý tài khoản trên, nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

[9] Đối với các anh Lê Văn P, Lê Thanh D1, do không biết máy phát điện N1 bán là tài sản phạm tội mà có, nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với P và D1 là có căn cứ.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.

[11] Về xử lý vật chứng vụ án:

  • 01 máy phát điện Hữu Toàn Generator Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là có căn cứ.
  • 01 xe mô tô Wave màu xanh rêu biển số 53S9-5580. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức thông báo tìm kiếm chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn tìm kiếm mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • 01 điện thoại di động hiệu S3 (thu của N1), N1 sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[12] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Lê Diệp Anh K nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong quá trình điều tra anh Lê Thành D2 yêu cầu bồi thường số tiền 7.300.000 đồng tiền mua máy phát điện, tuy nhiên tại phiên tòa anh D2 rút lại yêu cầu và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[13] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Trần Hoàng A 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.

  3. Căn cứ vào Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc N1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  4. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc N1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.

  5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức thông báo tìm kiếm chủ sở hữu đối với xe mô tô Wave màu xanh rêu biển số 53S9-5580 trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn tìm kiếm mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S3.
    • (Theo phiếu nhập kho số NK24/283C ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
  6. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Trần Hoàng A và Nguyễn Quốc N1 mỗi bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 332/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 332/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger