Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 332/2024/HS-PT

Ngày 10 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán: Ông Hà Huy Cầu.

Ông Mai Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 218/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo Dương Thị L phạm tội “Giết người”.

Do có kháng cáo của bị cáo Dương Thị L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 292/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024.

Bị cáo có kháng cáo: Dương Thị L, sinh năm 1987, tại tỉnh Hậu Giang (có mặt).

Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Giới tính: Nữ; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông Dương Văn G (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); Anh em ruột có 7 người, bị cáo là con thứ 5; C sống như vợ chồng với anh Trương Trọng T, sinh năm 1985 (từ năm 2008 đến nay không sống chung) và có 02 con (lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007); Từ năm 2021, chung sống với anh Võ Minh H, sinh năm 1987.

Tiền án: Ngày 18/9/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 09 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 308/2012/HSPT). Năm 2018, chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung; Tiền sự: Năm 2020, bị Công an huyện T lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc thời hạn 02 năm tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đến tháng 9/2022 chấp hành xong; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày

1

01/03/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 113 ngày 08/03/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

Người bào chữa của bị cáo: Luật sư Nguyễn Hồng N, Công ty L1- Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Địa chỉ: G, Tầng G, I C, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị hại: Anh Mai Văn M, sinh năm 1975 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Mai Thị T1, sinh năm 1981.
  2. Anh Mai Văn Q, sinh năm 2004.
  3. Chị Mai Thị Trúc P, sinh năm 2003.

Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Minh H, sinh năm 1987.

Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo, cũng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 28/02/2023, tại nhà anh Hồ Vảy N1 ở ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai, anh N1 cùng với Dương Thị L, Võ Minh H, Mai Văn M và Trần Văn N2 (Tèo) cùng tổ chức ăn nhậu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển số 52K6 - 7086 chở L về nhưng do bị say rượu nên xe đã đâm vào hàng rào nhà anh N1. Thấy vậy, anh M điều khiển xe mô tô biển số 52K6 - 7086 chở L, còn N2 (T2) điều khiển xe máy chở H đi về nhà của H tại ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, L về đến nhà nói với H là trên đường chở L về nhà đến đoạn đường vắng thuộc ấp A, xã N thì anh M dừng xe lại và đè L xuống đường, rồi dùng tay sờ nắn vào bộ phận sinh dục của L và lấy số tiền 6.800.000 đồng cất ở trong áo ngực của L.

Sau đó, H đã chở L đến gặp anh M hỏi rõ về sự việc L kể thì được anh M xác nhận là có sàm sỡ L nhưng không có lấy tiền và hẹn sáng hôm sau giải quyết. Khoảng 07 giờ ngày 01/3/2023, H và L gặp anh M tại nhà của anh N1. Tại đây, H hỏi anh M: “Tại sao anh sàm sỡ vợ em vậy?” thì anh M đã thừa nhận là có sàm sỡ nhưng không lấy tiền của L, rồi anh M nhiều lần chửi tục L.

Do bực tức vì bị anh M chửi, L cầm con dao Thái Lan (dài khoảng 21cm, mũi nhọn, cán bằng nhựa vàng) đang để sẵn trên bàn bida tại nhà anh N1, rồi đi vòng ra phía sau lưng của anh M, lúc này anh M đang cúi người chuẩn bị ngồi

2

xuống ghế thì bị L dùng 02 tay cầm dao Thái Lan đâm một nhát từ trên xuống dưới trúng vào lưng (vị trí cạnh cột sống lưng bên phải dưới đốt sống cổ) của anh M khiến con dao bị dính vào lưng của anh M.

Bị đâm, anh M đứng dậy đi loạng choạng vài bước rồi nằm gục dưới đất thì được anh N1 và mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Đ nhưng đã tử vong. Đến 07 giờ 40 phút cùng ngày, L đến Công an xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai đầu thú.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 429/KLGĐ-KTHS ngày 07/03/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ xác định tình trạng thương tích và nguyên nhân tử vong của anh Mai Văn M như sau:

Các kết quả chính: Vết rách da, cơ hình bầu dục cạnh cột sống, hướng rãnh thương từ sau ra trước hơi chếch từ trên xuống dưới và phải qua trái, xuyên vào lồng ngực trái, mép gọn, tụ máu. Rách tụ máu mặt sau phổi trái phần rốn phổi, dứt động mạch phổi và phế quản gốc trái.

Nguyên nhân tử vong: Sốc mất máu do vết thương thấu lưng gây đứt động mạch phổi và phế quản gốc trái.

Hung khí: Vật sắc nhọn (một mặt cắt).

Cơ chế hình thành thương tích: Nạn nhân bị vật sắc nhọn tác động trực tiếp vào vùng lưng xuyên vào lồng ngực gây đứt động mạch phổi và phế quản gốc trái, xuất huyết và tử vong.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định:

Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Dương Thị L phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Dương Thị L 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về bồi thường trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 05/02/2024, bị cáo Dương Thị L kháng cáo đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm và xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo L giữ nguyên kháng cáo và xác định hành vi sử dụng dao Thái Lan đâm anh M một nhát vào vùng lưng nêu tại bản án sơ thẩm là đúng. Tuy nhiên, bị cáo chỉ dùng một tay, không phải dùng hai tay cầm dao đâm anh M. Khi đâm anh M thì có mặt anh N1 và anh H. Sau khi bị đâm thì anh M vẫn đi được, còn bị cáo thì bỏ chạy. Việc đâm anh M là do đêm trước (ngày 28/02/2023), anh M đã có hành vi sàm sỡ và lấy 6.800.000 đồng của bị cáo nhưng ngày hôm sau thì anh M không nhận, lại còn chửi bị cáo nên bị cáo mới bức xúc dẫn đến phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo.

3

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử và bị cáo đã tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo hợp lệ, đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Do bị hại có hành vi sàm sỡ bị cáo, nên khi gặp lại thì bị cáo đã có hành vi dùng hung khí sắc nhọn (dao Thái Lan) đâm vào lưng bị hại dẫn đến tử vong. Khi xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 15 năm tù là có căn cứ. Tại phiên tòa, bị cáo cũng không cung cấp tình tiết mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo L trình bày:

Bị cáo L bị xét xử theo điểm n, p, Điều 123 Bộ luật Hình sự về tội “Giết người”. Tại phiên tòa, bị cáo đã xác nhận hành vi phạm tội và xin giảm hình phạt. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại. Trong vụ án này, bị hại có một phần lỗi dẫn đến bị cáo bức xúc nên đã phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo L thống nhất nội dung bào chữa của Luật sư.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị cáo Dương Thị L kháng cáo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo L cũng không khiếu nại đối với hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L xác định đã thực hiện hành vi dùng dao Thái Lan đâm anh M một nhát vào vùng lưng như bản án sơ thẩm đã nêu. Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định:

Vào khoảng 07 giờ ngày 01/03/2023, tại nhà của ông Hồ Vảy N1, ở ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo L cho rằng anh M đã có hành vi sàm sỡ và

4

lấy 6.800.000 đồng nhưng anh M không thừa nhận đã lấy tiền và chửi L. Trong lúc bực tức, L đã dùng 2 tay cầm một con dao Thái Lan dài khoảng 21 cm đâm 01 nhát vào lưng anh M làm anh M tử vong do vết thương thấu lưng gây đứt động mạch phổi và phế quản gốc trái.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm khi dùng dao đâm vào lưng là vùng trọng yếu của cơ thể, dẫn đến bị hại tử vong tại chỗ, đã tước đoạt tính mạng, xâm phạm quyền sống của con người được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ; bị cáo có tiền án, chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo L về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật, không oan.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo L, thấy rằng:

Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo cũng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 15 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

[5] Bị cáo L phải chịu án phí phúc thẩm. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thị L.
  2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
  3. Tuyên bố bị cáo Dương Thị L phạm tội “Giết người”.
  4. Căn cứ điểm n, p khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sủa đổi bổ sung năm 2017,

4.1. Xử phạt: Dương Thị L 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/03/2023.

4.2. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo Dương Thị L để bảo đảm thi hành án.

5

  1. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Dương Thị L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  2. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - TTG công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: VP (3), Hồ sơ (2), (LTTH).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đức Phương

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 332/2024/HS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm về tội "giết người"

  • Số bản án: 332/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội "Giết người"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger