|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 332/2024/HCPT
Ngày: 23 - 4 - 2024
V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Hùng
Ông Cao Văn Tám.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thuý – Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1103/2023/TLPT-HC ngày 22 tháng 12 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do Bản án hành chính sơ thẩm số 51/2023/HC-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 839/2024/QĐPT ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:
- Ông Võ Ngọc C, sinh năm 1950. (Vắng mặt)
- Bà Phú Thị H, sinh năm 1957. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: A, tổ B, khu phố E, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện:
- Ông Kiều Thành T, sinh năm 1984. (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Ngọc C1, sinh năm 1997. (Vắng mặt)
- Bà Ngô Thị Tuyết M, sinh năm 1988. (Vắng mặt)
- Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1991. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ liên hệ: 53, Đỗ Văn T2, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Ông Phạm Việt T3 – Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ liên hệ: 53, Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố B.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Xuân T4 – Phó Chủ tịch U. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Lê Hoàng Tuấn A – Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B. (Vắng mặt)
Người kháng cáo: Ông Võ Ngọc C và bà Phú Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/8/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người khởi kiện trình bày:
Trước đây ông bà nhận được giấy mời số 15/GM-UBND ngày 04/5/2020 của Ủy ban nhân dân phường B. Theo nội dung giấy mời ông bà được mời đến để triển khai thu hồi đất để thực hiện dự án Đường ven sông Đ và dự án Công viên và kè sông Đ thành phố B (từ cầu H đến giáp ranh huyện V).
Tiếp đó, ông bà tiếp tục nhận được giấy mời số 159/GM-TTPTQĐ ngày 03/3/2021 của Trung tâm phát triển quỹ đất trực thuộc Ủy ban nhân dân T. Theo nội dung giấy mời ông bà là một trong 26 hộ dân được mời đến trụ sở Ủy ban nhân dân phường B để lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ dự án xây dựng Công viên và K sông Đ và dự án Đường ven Sông Đ, thành phố B (từ cầu H đến giáp ranh huyện V).
Đến ngày 05/7/2021 thì Trung tâm phát triển quỹ đất trực thuộc Ủy ban nhân dân T ban hành Thông báo số 2686/TB-TTPTQĐ với nội dung thông báo là hộ ông bà được lập phương án bồi thường, hỗ trợ với tổng số tiền bồi thường là: 524.762.000 (năm trăm hai mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi hai nghìn) đồng.
Đến tháng 9/2021 thì ông bà nhận được quyết định thu hồi đất và bồi thường do thu hồi đất nêu trên. Vào đầu tháng 12/2021, thì nhận được Quyết định phê duyệt về phương án bồi thường. Nhưng cho đến nay vẫn chưa nhận được quyết định cá biệt về tái định cư cho từng hộ dân, cụ thể là quyết định tái định cư riêng cho gia đình ông bà.
Nhận thấy, việc nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng, mỹ quan đô thị nhằm phát triển kinh tế, xã hội rất đáng hoan nghênh nên gia đình ông bà cũng nghiêm chỉnh chấp hành theo quy định pháp luật như: Tham dự các buổi họp, thực hiện ký nhận
các quyết định mà cơ quan nhà nước bàn giao, làm thủ tục bàn giao giấy chứng nhận, ký nhận bàn giao ranh mốc lô đất tái định cư.
Tuy nhiên, việc ông bà chấp hành không đồng nghĩa đồng ý với các quyết định nêu trên của U. Sau khi đọc và nghiên cứu các văn bản pháp luật, ông bà nhận thấy quyết định trên của UBND thành phố B là sai trái, vi phạm pháp luật với những lý do như sau:
Thứ nhất: Về trình tự thủ tục thu hồi đất
- Về trình tự thủ tục: Việc Ủy ban nhân dân T tự ý áp giá bồi thường, không tôn trọng ý kiến của người dân là sai quy định pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của gia đình ông bà.
- Không công khai thông báo, niêm yết quyết định phê duyệt phương án bồi thường.
- Không giao, thông báo, niêm yết quyết định bố trí tái định cư. Hiện tại gia đình ông bà vẫn chưa nhận được quyết định bố trí tái định cư cho riêng hộ gia đình mình.
Thứ hai: Về xác định xuất tái định cư
Thực tế, gia đình ông bà thuộc diện bị thu hồi giải tỏa trắng toàn bộ diện tích đất ở (54m²) phải di chuyển chỗ ở, không có chỗ ở nào khác trong địa bàn phường B và đủ điều kiện được bố trí 01 suất tái định cư hộ chính. Ngoài ra, gia đình của hai con ông bà cùng sinh sống trên thửa đất bị thu hồi. Hai con của ông bà đã kết hôn trước thời điểm có thông báo thu hồi đất, đủ điều kiện tách hộ, cụ thể:
- Con gái tên: Võ Thị Ngọc H1 kết hôn vào ngày 03 tháng 1 năm 2012;
- Con trai tên: Võ Ngọc L kết hôn vào ngày 18 tháng 10 năm 2016.
Căn cứ khoản 2, Điều 6, Nghị định 47/2014/NĐ-CP về quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất:
"... 2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình...."
Theo đó, hai con ông bà đủ điều kiện để được xét giao 02 (hai) suất tái định cư. Việc áp dụng Quyết định 27/2020/QĐ-UBND ngày 26/6/2020 của UBND tỉnh Đ về việc ban hành quy định về tiêu chuẩn và trình tự thủ tục giải quyết tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là sai trái. Bởi lẽ việc xem xét cấp tái định cư theo quyết định 27/2020/QĐ-UBND ngày 26/6/2020 không đúng với quy định của khoản 2, Điều 6, Nghị định 47/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai 2013. Dẫn đến việc đền bù suất tái định cư không thỏa đáng.
Thứ ba: Về số tiền bồi thường
- Bên cạnh đó theo quyết định số 2528/QĐ-UBND thì ông bà được bồi thường, hỗ trợ giá tiền là: 524.762.000 (Năm trăm hai mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi hai nghìn) đồng. Trong đó bồi thường về đất là: 324.216.000 (ba trăm hai mươi bốn triệu hai trăm mười sáu nghìn) đồng và bồi thường về Nhà, kiến trúc là 178.298.000 (một trăm bảy mươi tám triệu hai trăm chín mươi tám nghìn) đồng.
- Đơn giá bồi thường không thỏa đáng vì đây là đơn giá bồi thường năm 2019. Hiện tại là năm 2022, vật giá thay đổi. Số tiền ông bà nhận bồi thường hiện tại không đủ để mua một miếng đất mới nên không thể áp giá bồi thường cũ mà phải tính giá bồi thường về đất, vật kiến trúc công trình gắn liền với đất theo đơn giá thị trường thời điểm hiện tại.
- Về việc bảng chiết tính kèm theo không ghi ngày tháng, năm ban hành và không có chữ ký của hộ dân, không có đóng dấu của U.
Thứ tư: Về xác định vị trí đất và loại nhà
- Đất của ông bà có mặt tiền hẻm trên 3m và dưới 5m cách đường phố dưới 400m. Theo quy định tại Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND Tỉnh Đ về ban hành bảng giá đất giai đoạn 2020-2024 thì "Các thửa đất mặt tiền hẻm có bề rộng từ ≥ 3m đến <5m, cách đường phố – 400m." được xác định có vị trí 2. Do đó việc xác định vị đất nhà ông bà là vị trí 4 để bồi thường là không chính xác.
- Về phần nhà thì toàn bộ diện tích 52,75m² phải được tính là nhà cấp IV hạng 2 (C4H2 theo quyết định 09/2019 ngày 11/3/2019 của UBND tỉnh Đ. Việc xác định hơn 16,41m² là nhà cấp IV hạng 3 là không chính xác. Nhà ông bà gồm khung cột gạch chịu lực có mái hiên, tường sơn nước; trần tôn lạnh; nền lát gạch ceramic, cửa sắt kính và đáp ứng điều kiện hệ thống điện, tiện nghi, số tầng, niên hạn sử dụng phù hợp. Nhà xây dựng vào cùng thời điểm nền tách riêng ra từng phần và xác định hạng nhà là không chính xác. Hơn nữa phải tính theo đơn giá hiện tại năm 2022.
Thứ 5: Về hỗ trợ tiền thuê nhà ở đối với hộ dân giải tỏa trắng
Căn cứ theo khoản 1, Điều 28 Quyết định 10/2018/QĐ-UBND quy định hỗ trợ tiền thuê nhà ở "Hộ gia đình, cá nhân khi nhà nước thu hồi đất ở mà được bồi
thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư thì trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới được bố trí vào nhà ở tạm hoặc được hỗ trợ tiền thuê nhà ở".
Hiện gia đình ông bà vẫn chưa nhận được khoản tiền này và trong bảng chiết tính cũng không ghi.
Yêu cầu khởi kiện, hủy các quyết định sau:
- Quyết định số 2527/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 của Ủy Ban Nhân Dân Thành phố B về việc Thu hồi đất của ông (bà) Võ Ngọc C và Phú Thị H để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường ven sông Đ, thành phố B (đoạn từ cầu H đến giáp ranh huyện V).
- Quyết định số 2528/QĐ- UBND ngày 30/8/2021 của Ủy Ban Nhân Dân Thành phố B về việc Bồi thường, hỗ trợ cho ông (bà) Võ Ngọc C và Phú Thị H do thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường ven sông Đ, thành phố B (đoạn từ cầu H đến giáp ranh huyện V).
- Quyết định số 3453/QĐ-UBND ngày 19/11/2021 của Ủy Ban Nhân Dân Thành phố B về việc phê duyệt phương án tái định cư và giải quyết nơi ở cho các hộ dân thuộc diện giải tỏa thực hiện dự án xây dựng đường ven sông Đ, thành phố B và dự án Kè sông Đ, thành phố B (từ cầu H đến giáp ranh huyện V, đợt 7).
Tại bản án sơ thẩm số 51/2023/HC-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
- Căn cứ Căn cứ Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 157, Điều 158, Điều 193, Điều 194 của Luật tố tụng hành chính
- Căn cứ Điều 62, 66, 69, 74,75,76, 83, 84, 89 Luật đất đai năm 2013; Điều 6, 9, 19, 20, 21 Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ; Điều 14, 15 của Quyết định 10/2018/QĐ-UBND ngày 22/2/2018 của UBND tỉnh Đ; Quyết định số 41/2019/QĐ- UBND ngày 16 tháng 10 năm 2019, Quyết định số 09/2019/QĐ-UBND ngày 11/3/2019, Quyết định số 57/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 và Quyết định số 11/2019/QĐ-UBND ngày 15/3/2019 quy định về giá bồi thường, hỗ trợ tài sản khi thu hồi đất của UBND tỉnh Đ.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Ngọc C và bà Phú Thị H về việc yêu cầu hủy các Quyết định hành chính của U gồm:
- + Quyết định số 2527/QĐ-UBND ngày 30/8/2021về việc thu hồi đất của ông Võ Ngọc C và bà Phú Thị H.
- + Quyết định số 2528/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 về việc bồi thường, hỗ trợ cho ông Võ Ngọc C và bà Phú Thị H.
- + Quyết định số 3453/QĐ-UBND ngày 19/11/2021 của U về việc Phê duyệt tái định cư.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và kháng cáo.
Ngày 12/9/2023, người khởi kiện – ông Võ Ngọc C, bà Phú Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo – ông Võ Ngọc C, bà Phú Thị H có người đại diện theo ủy quyền và luật sư trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo tại đơn kháng cáo của ông C, bà H, nội dung trình bày giữ nguyên tất cả lời trình bày từ trước đến nay như ở giai đoạn sơ thẩm và trong nội dung đơn kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Võ Ngọc C, bà Phú Thị H là trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung: Phía người khởi kiện không đưa ra tình tiết và chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của ông Võ Ngọc C, bà Phú Thị H là trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
[1.2] Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
[2] Xét kháng cáo của ông Võ Ngọc C, bà Phú Thị H
[2.1] Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất:
Ngày 28/3/2020, Ủy ban nhân dân thành phố B ban hành Thông báo thu hồi đất số 987/TB-UBND đối với ông Võ Ngọc C và bà Phú Thị H, theo đó, thu hồi 47m² thuộc thửa 407, tờ bản đồ số 3, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, loại đất ở đô thị.
Ngày 17/6/2021, Ủy ban nhân dân thành phố B ban hành Thông báo điều chỉnh diện tích đất thu hồi tại Thông báo số 987/TB-UBND ngày 28/3/2020, theo đó, điều chỉnh diện tích thu hồi từ 47m² thành 54m².
Ngày 22/9/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 3445/QĐ- UBND về việc phê duyệt giá đất để bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.
Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố B đã tiến hành kiểm đếm về đất đai, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất; Ủy ban nhân dân phường B lập Giấy xác nhận nguồn gốc đất, nhà, vật kiến trúc số 215/XN-UBND cho ông C và bà H có nội dung như sau: “Thửa đất số 407, tờ bản đồ số 3: đất do ông Võ Ngọc C và bà Phú Thị H sử dụng, thửa đất được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận số BG 647296 ngày 06/9/2011. Nhà, vật kiến trúc do ông C và bà H xây dựng từ năm 2003, gồm nhà C4H2, C4H3 (không phép, không xử phạt) trên một phần thửa đất số 15, tờ bản đồ số 3 do bà Phú Thị T5 làm chủ sử dụng. Đến năm 2011 bà T5 làm thủ tục tách thửa 15 cho tặng con là bà H, ông C một phần diện tích đất (nay là thửa 407). Nay phần nhà C4H3 thuộc thửa 406. Thửa 406 tách từ thửa 15, tờ số 3, nay ông Phú Văn Đ làm chủ sử dụng. Sử dụng ổn định đến nay, không tranh chấp”.
Ngày 30/8/2021, Ủy ban nhân dân thành phố B ban hành Quyết định 2527/QĐ- UBND về việc thu hồi đất của ông Võ Ngọc C và bà Phú Thị H, theo đó thu hồi 54m² thuộc thửa đất số 407, tờ bản đồ số 3, đất nông nghiệp. Cùng ngày, Ủy ban nhân dân thành phố B ban hành Quyết định 2528/QĐ-UBND về việc bồi thường hỗ trợ cho ông C và bà H do thu hồi đất để thực hiện đầu tư xây dựng Đường ven sông Đ, thành phố B (từ cầu H đến giáp ranh huyện V) (đợt 10).
Như vậy, Quyết định số 2527/QĐ-UBND và Quyết định số 2528/QĐ-UBND cùng ngày 30/8/2021 của Ủy ban nhân dân Thành phố B về việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ cho ông C và bà H là đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.
[2.2] Về nội dung các quyết định
[2.2.1] Quyết định thu hồi đất:
Căn cứ Quyết định số 4385/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ, về việc phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2020 của thành phố B. Ủy ban nhân dân Thành phố B ban hành Thông báo thu hồi đất, Thông báo điều chỉnh diện tích đất thu hồi đối với ông C, bà H và tiến hành các thủ tục kiểm đếm về đất đai, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất; lập Giấy xác nhận nguồn gốc đất, nhà, vật kiến trúc. Ngày 30/8/2021, Ủy ban nhân dân Thành phố B ban hành Quyết định số 2527/QĐ-UBND về việc thu hồi đất thực hiện dự án xây dựng Đường ven sông Đ, thành phố B là đúng quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật đất đai 2013.
[2.2.2] Về quyết định bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất:
Ngày 30/8/2021, Ủy ban nhân dân Thành phố B ban hành Quyết định số 2528/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đối với ông C và bà H với tổng số tiền là: 524.762.000 đồng, bao gồm:
- + Bồi thường về đất: 324.216.000 đồng (Cụ thể: Đất ở đô thị, vị trí 4; 54m² x 6.004.000₫);
- + Bồi thường, hỗ trợ về nhà, vật kiến trúc: 178.298.000 đồng;
- + Tài sản khác: 4.248.000₫.
- + Các chính sách hỗ trợ: 6.000.000đ.
- + Thưởng di dời: 12.000.000đ.
Ngày 19/11/2021, Ủy ban nhân dân thành phố B ban hành Quyết định số 3453/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tái định cư. Theo đó, ông C và bà H được duyệt 01 xuất tái định cư hộ chính.
Như vậy, Ủy ban nhân dân thành phố B ban hành Quyết định số 2527/QĐ- UBND và Quyết định số 2528/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đối với ông C và bà H là đúng quy định pháp luật.
[2.3] Đối với yêu cầu suất tái định cư hộ phụ:
Ông C, bà H yêu cầu được giải quyết chính sách tái định cư hộ phụ cho hai con của ông bà đã kết hôn trước thời điểm có thông báo thu hồi đất.
Theo hồ sơ thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 647296 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 06/9/2011 là cấp cho cá nhân ông C, bà H, nên ông L và bà H1 không có chung quyền sử dụng đất; Ông L và bà H1 chưa đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú và không được lập hồ sơ bồi thường, không đủ điều kiện xét cấp tái định cư hộ phụ, không
thuộc đối tượng được xét tái định cư hộ phụ, nên Ủy ban nhân dân thành phố B không xét cấp tái định cư hộ phụ cho ông L và bà H1 là đúng quy định pháp luật.
Từ các nhận định nêu trên có cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, bà H về việc hủy các Quyết định số 2527/QĐ- UBND; Quyết định số 2528/QĐ-UBND cùng ngày 30/8/2021 và Quyết định 3453/QĐ-UBND ngày 19/11/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.
[2.4] Ông Võ Ngọc C, bà Phú Thị H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Nhưng trong quá trình giải quyết theo thủ tục phúc thẩm ông C, bà H không xuất trình được chứng cứ nào mới để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông C, bà H; Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo của người khởi kiện là có căn cứ, đúng pháp luật và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 51/2023/HC-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
[3] Về án phí hành chính phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo của ông Võ Ngọc C, bà Phú Thị H không được chấp nhận nên ông C, bà H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, ông C, bà H là người cao tuổi và có đơn xin miễn đóng án phí theo đúng quy định pháp luật nên ông C, bà H được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Ngọc C, bà Phú Thị H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 51/2023/HC-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Ngọc C và bà Phú Thị H về việc yêu cầu hủy các Quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố B gồm:
- + Quyết định số 2527/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 về việc thu hồi đất của ông Võ Ngọc C và bà Phú Thị H.
- + Quyết định số 2528/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 về việc bồi thường, hỗ trợ cho ông Võ Ngọc C và bà Phú Thị H.
- + Quyết định số 3453/QĐ-UBND ngày 19/11/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc Phê duyệt tái định cư.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Võ Ngọc C, bà Phú Thị H được miễn nộp tiền án phí hành chính phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |
Bản án số 332/2024/HCPT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 332/2024/HCPT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án
