Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 332/2024/DS-PT

Ngày: 24-7-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản và góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu

Các thẩm phán:

  • Ông Nguyễn Văn Bình;
  • Ông Trần Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gọn; Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 và ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 01 năm 2024 “ Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và góp hụi”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 164/2023/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò dầu, tỉnh Tây Ninh; bị kháng cáo.

Căn cứ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 395/2024/QĐXX-PT ngày 09 tháng 7 năm 2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kim Đ, sinh năm 1962; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hồ Dương L; Luật sư thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ4; Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.

- Bị đơn:

1. Bà Huỳnh Ngọc R, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ F, ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

2. Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ F, ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà R, ông P: ông Lâm Hoàng T, sinh năm 1959; địa chỉ: 1 L, phường A, quận B, TP .; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông P: Ông Nguyễn Văn T1; Luật sư thuộc Công ty B; Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đơn khởi kiện đề ngày 29-5-2023 và những lời khai tiếp theo và tại phiên toà, bà Ngô Thị Kim Đ trình bày:

Bà tham gia góp hụi do bà R làm chủ thảo từ nhiều năm (hụi có lãi); Hình thức góp hụi: Thành viên bỏ thăm số tiền cao được lãnh hụi (hốt hụi), thành viên khác phải góp tiền hụi trên số tiền đã bỏ thâm. Trong tháng 8 và tháng 9/2021, do dịch C không tổ chức khui hụ, nên những dây hụi mở trước tháng 8-2021 đã kết thúc sau 02 tháng so với thời gian dự kiến kết thúc. Tất cả các dây hụi bà góp và mua hụi, bà chưa hốt và đã đóng hụi đến hết kỳ khui hụi ngày 10-4-2023. Hiện nay bà R còn nợ bà số tiền như sau:

* Hụi mở ngày 10-4-2021 và kết thúc ngày 10-6-2023; gồm hụi 5.000.000 đồng/tháng và 3.000.000 đồng/tháng, hụi bể ngày 10-4-2023; như sau:

1/ Hụi góp số tiền 5.000.000 đồng/tháng, có 25 phần:

  • + Bà góp 01 phần, đã có 23 phần hốt, còn 02 phần chưa hốt, có 1 phần hụi của bà. Bà góp được 23 lần, bình quân mỗi tháng, bà góp số tiền hụi sống 3.500.000 đ x 23 lần= 80.500.000 đồng.
  • + Bà mua 04 phần hụi của các bà: Thiệt, M, H và C1; đến ngày kết thúc hụi, bà R phải trả cho bà số tiền 490.000.000 đồng (122.500.000 đồng x 4);

Tổng số tiền hụi phải trả 570.700.000 đồng.

2/ Hụi góp số tiền 3.000.000 đồng/tháng, có 5 dây, bà góp mỗi dây 1 phần; mỗi dây 25 phần, đến ngày bể hụi 10-4-2023 đã có 23 phần hụi hốt, còn 2 phần hụi chưa hốt, trong đó mỗi dây bà có 1 phần chưa hốt, như sau:

  • + Dây 1: Bình quân đến ngày bể hụi, bà đã góp hụi sống số tiền 46.000.000 đồng; nếu đến ngày kết thúc hụi, bà R phải trả số tiền 67.500.000 đồng.
  • + Dây 2: Bình quân đến ngày bể hụi bà đã góp được số tiền 46.000.000 đồng; nếu đến ngày kết thúc, bà R phải trả số tiền 67.500.000 đồng.
  • + Dây 3: Bình quân đến ngày bể hụi, bà đã góp số tiền 46.000.000 đồng; đến ngày kết thúc hụi, bà R phải trả số tiền 67.500.000 đồng. Bà mua 01 phần hụi của “Khương số tiền 37.860.000 đồng, đến ngày kết thúc hụi, bà R phải trả số tiền 73.500.000 đồng; bà R phải trả tổng số tiền 141.000.000 đồng.
  • + Dây 4: Bình quân đến ngày bể hụi bà đã góp số tiền 46.000.000 đồng, đến ngày kết thúc hụi, bà R phải trả số tiền 67.500.000 đồng. Bà mua 01 phần hụi của “Liểu O” số tiền 52.500.000 đồng, đến ngày kết thúc hụi phải trả số tiền 73.500.000 đồng. Tổng số tiền hụi phải trả 141.000.000 đồng.

* Hụi mở ngày 20-12-2021 gồm dây hụi 3.000.000 đồng và dây hụi 5.000.000 đồng/ tháng, kết thúc cùng ngày 20-12-2023; cụ thể:

1/ Hụi góp số tiền 5.000.000 đồng, có 16 phần đã hốt, còn 09 phần sống, trong đó bà có 1 phần, đến ngày bể hụi bà chưa hốt. Bà đã góp hụi 16 lần tổng số tiền 56.000.000 đồng (trung bình góp 3.500.000 đồng/tháng). Bà mua 08 phần hụi của: Hí Hiền, C2, C3, P1, T2, Liểu O (02 phần), Đèo H1; tổng số tiền mua hụi 716.030.000 đồng; bà R phải trả cho bà hụi góp và hụi mua số tiền 772.030.000 đồng.

2/ Hụi góp số tiền 3.000.000 đồng có 25 phần tham gia, có 16 phần hụi đã hốt, còn 9 phần hụi chưa hốt; cụ thể:

  • + Dây 1: Bà góp 16 lần với số tiền 32.000.000 đồng. Bà mua 01 phần của “Duyên” số tiền 55.000.000 đồng; đến ngày kết thúc hụi, bà chưa hốt, bà R còn nợ số tiền 73.500.000 đồng. Tổng số tiền hụi nợ 105. 500.000 đồng.
  • + Dây 2: Bà góp16 lần với số tiền 32.000.000 đồng, không có mua hụi.
  • + Dây 3: Bà góp 16 lần với số tiền 32.000.000 đồng; mua 01 phần hụi của “Tửng” số tiền 50.000.000 đồng; đến ngày kết thúc hụi, bà chưa hốt; bà R nợ số tiền 73.500.000 đồng. Tổng số tiền bà R phải trả 105.500.000 đồng.
  • + Dây 4: Bà góp 16 lần với số tiền 32.000.000 đồng, mua 01 phần hụi của “Tịnh Hia” số tiền 50.000.000 đồng; đến ngày kết thúc hụi, bà R phải trả số tiền 73.500.000 đồng; tổng số tiền bà R phải trả 105. 500.000 đồng.
  • + Dây 5: Bà góp 16 lần với số tiền 32.000.000 đồng; mua 03 phần hụi của “Như” số tiền 55.000.000 đồng, của “K” số tiền 50.000.000 đồng, của “Thủy Như” số tiền 50.000.000 đồng; bà chưa hốt; đến ngày kết thúc hụi, bà R còn nợ số tiền 220.500.000 đồng. Tổng số tiền bà R phải trả 252.500.000 đồng.

* Hụi mở ngày 10-6-2022, gồm dây 3.000.000 đồng và dây hụi 5.000.000 đồng; cùng kết thúc ngày 10-6-2024

1/ Hụi góp số tiền 5.000.000 đồng có 25 phần, bà góp 01 phần, đến ngày bể hụi đã góp 11 lần tổng số tiền 38.500.000 đồng. Bà mua 01 phần hụi của “Hí Hiền” số tiền 73.500.000đồng, đến ngày kết thúc hụi, bà chưa hốt số tiền 122.500.000 đồng. Tổng số tiền bà R phải trả cho bà 161.000.000 đồng

2/ Hụi góp số tiền 3.000.000 đồng, mỗi dây có 25 phần, có 11 phần hụi đã hốt, còn 14 phần sống, trong đó bà góp 1 phần; đến ngày bể hụi, bà góp và hụi bà mua đều chưa hốt, cụ thể:

  • + Dây 01: Bà góp 02 phần tên “Điệp” và “Quốc Trung”; bà đã góp 11 lần số tiền 44.000.000 đồng. Mua 01 phần hụi của bà R số tiền 49.500.000 đồng, nên bà R còn nợ số tiền 73.500.000 đồng. Tổng số tiền hụi, bà R phải trả 117.500.000đồng.
  • + Dây 02: Bà góp 02 tên “Điệp” và “Quốc Trung”, bà đã góp tiền hụi đến ngày bể hụi số tiền 44.000.000 đồng. Mua 01 phần hụi của bà R số tiền 49.500.000 đồng, đến ngày bể hụi, bà R nợ số tiền 73.500.000 đồng. Tổng số tiền hụi, phải trả 117.500.000 đồng.
  • + Dây 03: Bà góp 02 phần tên “Điệp” và “Quốc Trung”, góp đến ngày bể hụi số tiền 44.000.000 đồng. Mua 01 phần hụi của bà R số tiền 49.500.000 đồng, đến ngày bể hụi còn nợ số tiền 73.500.000 đồng. Tổng số tiền hụi phải trả 117. 500.000 đồng.
  • + Dây 04: Bà góp 02 phần tên “Điệp” và “Quốc Trung”, đã góp đến ngày bố bể hụi số tiền 44.000.000 đồng. Mua 01 phần hụi của bà R số tiền 49.500.000 đồng, đến ngày mãn hụi còn nợ số tiền 73.500.000 đồng. Tổng số tiền hụi phải trả 117.500.000 đồng
  • + Dây 05: Bà góp 02 phần tên “Điệp” và “Quốc Trung”; góp đến ngày bể hụi số tiền 44.000.000 đồng. Mua 01 phần hụi của bà R số tiền 49.500.000 đồng, đến ngày kết thúc, bà R còn nợ số tiền 73.500.000 đồng. Tổng số tiền hụi phải trả 117. 500.000 đồng. Ngoài ra, lần khui hụi ngày 10-4-2023, bà R còn nợ số tiền hụi góp thừa 13.540.000 đồng.

* Hụi mở ngày 10-8-2022, hụi 5.000.000 đ và hụi 3.000.000 đồng/tháng; Cùng kết thúc ngày 10-8-2024.

1/ Hụi góp số tiền 5.000.000 đồng gồm 25 phần, bà góp 01 phần, đến ngày bể hụi, bà góp 09 lần hụi sống số tiền 31.500.000 đồng.

2/ Hụi 3.000.000 đồng, mỗi dây có 25 phần, có 09 phần đã hốt, còn 16 phần sống; cụ thể:

  • + Dây 01: Bà góp 01 phần tên “Điệp”, góp đến ngày bể hụi 9 lần số tiền 18.000.000 đồng.
  • + Dây 02: Bà góp 01 phần tên “Điệp”, góp đến ngày bể hụi 9 lần số tiền 18.000.000 đồng.

* Hụi mở ngày 30-01-2023, hụi 5.000.000 đồng và hụi 3.000.000 đồng/tháng; cùng kết thúc ngày 30-01-2025.

1/ Hụi góp số tiền 5.000.000 đồng gồm 25 phần, bà góp 02 phần tên “Điệp”; đã góp 03 lần hụi sống số tiền 21.000.000 đồng.

2/ Hụi góp số tiền 3.000.000 đồng, mỗi dây có 25 phần, góp 3 dây 3 phần: mỗi phần góp 3 lần số tiền 18.000.000 đồng.

Tiền vay:

1/ Từ tiền hụi: Bà Rô mượn tiền của các dây hụi đã kết thúc ngày 30-12-2022, số tiền 1.400.000.000 đồng + các phần hụi kết thúc ngày 20-02-2023 số tiền 937.500.000 đồng;

2/ Bà R vay của bà số tiền 230.000.000 đồng, nhận tiền 02 lần; Ngày 29-01-2023 (AL) vay số tiền 100.000.000 đồng + ngày 10-3-2023 vay số tiền 130.000.000 đồng.

Tổng số tiền hụi và tiền vay chưa trả 5.690.570.000 đồng, bà R và ông P có trách nhiệm cùng trả, theo giá hụi chết, tính tiền lãi theo pháp luật.

Bị đơn; do anh Trần Quốc T3 trình bày:

Bà Huỳnh Ngọc R và ông Huỳnh Văn P chung sống từ năm 1987, không đăng ký kết hôn, có 1 con chung. Năm 2011, vợ chồng bà mâu thuẫn, ly thân, bà R sống cùng con gái. Từ năm 2014, bà R làm chủ hụi, kiếm tiền huê hồng, do ít học, không rành ghi chép, khó kiểm soát, nhiều lần bị nhầm. Bà Đ thấy hụi của bà R có lời nhiều, nên từ năm 2017, bà R và bà Đ và Đoàn Thị N hùn mở hụi. Theo thoả thuận, bà R làm chủ hụi trực tiếp gom và giao tiền hụi, hưởng tiền huê hồng; bà Đ và bà N mua hụi khi có hụi viên bán để lấy tiền lời. Bà Đ làm thư ký cho bà R ghi chép sổ hụi.

Cuối năm 2021, đầu năm 2022, do dịch C, nhiều hụi viên không góp hụi và đóng hụi chết, bà R phải chàng tiền hụi, đến khi không còn khả năng, bà R tuyên bố bể hụi; bà Đ yêu cầu bà R duy trì, vì bà N và bà Đ đã mua nhiều hụi.Ngày 29-01-2022 (AL), bà Đ cho bà R vay số tiền 100.000.000 đồng chàng hụi cho hụi viên, thời hạn vay khi nào lấy tiền được trả, lãi suất thỏa thuận 6%/tháng. Ngày 10-3-2022 (AL), bà Đ cho bà R vay số tiền 130.000.000 đồng, thời hạn và lãi suất như lần đầu. Bà R đã trả tiền lãi đủ đến ngày 10-4-2023.

Ngày 30-12-2022, bà R chưa thu hồi tiền hụi chết, nên không góp hụi cho bà R, bà bà Đ cho bà Rô m các dây hụi đã kết thúc gồm: hụi mở ngày 30-12-2022 và mở ngày 20-02-2023, giao tiền cho hụi viên; bà R ký tên giấy nhận nợ số tiền 2.337.500.000 đồng và số tiền 230.000.000 đồng bà R vay trước đó.

Ngày 10-4-2023, bà Rô b hụi, bà Đ đòi bà R trả số tiền đã bỏ vào để duy trì vốn và tiền lãi đến khi hụi kết thúc hụi, bà R có thương lượng trả tiền gốc, bà Đ không đồng ý.

Bà R không đồng ý yêu cầu khởi kiện, vì có sự hùn mở hụi, bà R hưởng tiền huê hồng, bà Đ và bà N mua hụi lấy lời, không liên quan ông P.

Bị đơn do bà R trình bày:

1. Hụi mở ngày 10-4-2021

1.1. Hụi góp 5.000.000 đồng/tháng có 25 phần, bà Đ góp 01 phần, đã hốt ngày 10-6-2022, bỏ thâm số tiền 1.000.000 đồng, sống 12 phần, chết 12 phần; đã nhận số tiền hốt là 105.500.000 đồng (trừ tiền cò 2.500.000 đồng); bà Đ còn thiếu bà R 02 kỳ hụi chết số tiền 10.000.000 đồng, bà Đ mua hụi của bà T4, bà H, bà M và bà C4; như sau:

  • + Ngày 10-7-2022, mua của bà T4 số tiền 104.000.000 đồng; đến ngày bể hụi 10-4-2023 đã nhận lãi số tiền 21.200.000 đồng.
  • + Ngày 10-11-2021, mua của bà M số tiền 90.000.000 đồn, đến ngày 10-4-2023 đã nhận lãi số tiền 33.400.000 đồng.
  • + Ngày 10-4-2021, mua của bà C4 số tiền 72.800.000 đồng, đến ngày 10-4-2023 đã nhận lãi số tiền 36.900.000 đồng.
  • + Ngày 10-4-2021, mua của bà Hằng số tiền 72.800.000 đồng, bà Đ hốt ngày 10-02-2023, bỏ thâm số tiền 2.200.000 đồng, sống 04 phần, chết 21 phần; bà Đ đã nhận xong số tiền 113.700.000 đồng (trừ tiền cò 2.500.000 đồng).

1.2 Hụi góp 3.000.000 đồng/tháng:

  • + Dây 1: bà Đ hốt ngày 10-7-2022, bỏ thâm số tiền 1.120.000 đồng, sống 11 phần, chết 13 phần; bà Đ đã nhận xong số tiền 58.180.000 đồng (tiền cò 1.500.000 đồng); bà Đ còn nợ 02 kỳ hụi chết số tiền 6.000.000 đồng.
  • + Dây 2 bà Đ không tham gia góp hụi, chị C5 (T5) đã hốt xong.
  • + Dây 3: bà Đ đóng hụi sống được 23 kỳ số tiền 39.000.000 đồng. bà Đ mua 01 phần hụi của K1 số tiền 37.860.000 đồng, bà Đ đã hốt ngày 10-6-2022, bỏ thâm số tiền 1.150.000 đồng, sống 12 phần, chết 13 phần. Bà Đ đã nhận xong số tiền 59.700.000 đồng (trừ cò 1.500.000 đồng);

Dây 4: bà Đ đã đóng hụi sống 23 kỳ số tiền 38.200.000 đồng. bà Đ còn mua 01 phần hụi của Liễu O số tiền 52.500.000 đồng, đã hốt ngày 10-9-2022, bỏ thâm số tiền 1.150.000 đồng, sống 09 phần, chết 16 phần; bà Đ đã nhận xong số tiền 63.150.000 đồng (trừ cò 1.500.000 đồng).

2/Hụi khui ngày 20-12-2021

2.1. Hụi góp 5.000.000 đồng/tháng bà Đ không tham gia, có mua 07 phần hụi; cụ thể như sau:

  • + Mua của “Hí Hiền” số tiền 93.050.000 đồng, bà Đ đã hốt ngày 20-11-2022, bỏ thâm số tiền 1.900.000 đồng, sống 13 phần, chết 12 phần; bà Đ đã nhận xong số tiền 97.700.000 đồng (trừ cò 2.500.000 đồng).
  • + Mua của bà C2 ngày 20-3-2022 số tiền 91.720.000 đồng, đến ngày 10-4-2023 bà Đ đã nhận tiền lãi 22.260.000 đồng.
  • + Mua của bà C3 số tiền 93.050.000 đồng, bà Đ đã hốt ngày 20-01-2023, bỏ thâm số tiền 2.030.000 đồng, sống 11 phần, chết 14 phần; bà Đ đã nhận xong số tiền 100.170.000 đồng (trừ cò 2.500.000 đồng).
  • + Mua của P1 số tiền 93.050.000 đồng, đã hốt ngày 20-10-2022, bỏ thâm số tiền 1.700.000 đồng, sống 14 phần, chết 11 phần. Bà Đ đã nhận xong số tiền 98.700.000 đồng (trừ cỏ 2.500.000 đồng).
  • + Mua của T2 số tiền 93.050.000 đồng, bà Đ đã hốt ngày 20-8-2022, bỏ thâm số tiền 1.670.000 đồng, sống 16 phần, chết 09 phần; bà Đ đã nhận xong số tiền 95.780.000 đồng (trừ cò 2.500.000 đồng).
  • + Mua của Liễu O ngày 20-12-2021 số tiền 74.500.000 đồng, đến ngày 10-4-2023 bà Đ đã nhận số tiền lãi 30.180.000 đồng.
  • + Mua của Đ1 Hứng ngày 20-02-2022 số tiền 82.630.000 đồng, đến ngày 10-4-2023 đã nhận số tiền lãi 25.830.000 đồng.

3/ Hụi góp 3.000.000 đồng/tháng:

  • + Dây 1: Bà Đ không tham gia góp, có mua hụi của Duyên số tiền 55.000.000 đồng, bà Đ hốt ngày 20-4-2022, bỏ thâm số tiền 890.000 đồng, sống 20 phần, chết 05 phần; bà Đ đã nhận xong số tiền 55.700.000 đồng (trừ cò 1.500.000 đồng).
  • + Dây 2: Bà Đ không tham gia góp hụi và không mua .
  • + Dây 3: Bà Đ không tham gia góp hụi, có mua hụi của T2 ngày 20-3-2022 số tiền 50.000.000 đồng, đến ngày 10-4-2023 đã nhận lãi 15.400.000 đồng.
  • + Dây 4: Bà Đ không tham gia góp hụi, có mua hụi của Tịnh H2 số tiền 50.000.000 đồng, bà Đ đã hốt ngày 20-9-2022, bỏ thâm số tiền 1.070.000 đồng, sống 15 phần, chết 10 phần; Bà Đ đã nhận xong số tiền 57.450.000 đồng (trừ cò 1.500.000 đồng).
  • + Dây 5: Bà Đ tham gia góp 01 phần, đóng 16 kỳ số tiền 29.370.000 đồng và mua 03 phần hụi của: Như ngày 20-3-2022 số tiền 50.000.000 đồng, đến ngày 10-4-2023 đã nhận 16.580.000 đồng; mua của K ngày 20-3-2022 số tiền 50.000.000 đồng, đến ngày 10-4-2023 đã nhận lãi 16.580.000 đồng; mua của T6 (Như) số tiền 55.000.000 đồng, đã hốt ngày 20-11-2022, bỏ thâm số tiền 1.150.000 đồng, sống 13 phần, chết 12 phần; bà Đ đã nhận xong số tiền 57.550.000 đồng (trừ cò 1.500.000 đồng).

4/ Hụi khui ngày 10-6-2022

4.1. Hụi góp 5.000.000 đồng/tháng, góp 01 phần, đóng hụi sống 11 kỳ số tiền 33.490.000 đồng; có mua hụi của Hí H3 số tiền 73.500.000 đồng, bà Đ đã hốt ngày 10-12-2022, bỏ thâm số tiền 1.900.000 đồng, sống 18 phần, chết 07 phần; bà Đ đã nhận xong số tiền 88.300.000 đồng (trừ cò 2.500.000 đồng

4.2 Hụi góp 3.000.000 đồng/tháng:

  • + Dây 1 góp 02 phần tên “Điệp” và “Quốc Trung”, Đ đã đóng 11 kỳ số tiền 20.100.000 đồng x 2 phần = 40.200.000 đồng. Mua của bà R 01 phần ngày 10-9-2022 số tiền 49.500.000 đồng; bà Đ hốt ngày 10-02-2023, bỏ thâm số tiền 1.100.000 đồng, 09 phần chết, 16 phần sống; Đ đã nhận xong số tiền 55.900.000 đồng (trừ cò 1.500.000 đồng).
  • + Dây 2 góp 02 phần tên “Điệp” và “Quốc Trung”, bà Đ đóng 11 kỳ số tiền 20.550.000 đồng x 2 phần = 41.100.000 đồng; mua của bà R 01 phần ngày 10-9-2022 số tiền 49.500.000 đồng; đến ngày 10-4-2023 bà Đ đã nhận lãi 8.020.000 đồng.
  • + Dây 3 góp 02 phần tên “Điệp” và “Quốc Trung”, Đ đóng 11 kỳ số tiền 20.160.000 đồng x 2 phần = 40.320.000 đồng. Mua của bà R 01 phần ngày 10-9-2022, số tiền 49.500.000 đồng; đến ngày 10-4-2023 bà Đ đã nhận lãi 8.320.000 đồng.
  • + Dây 4 góp 02 phần tên “Điệp” và “Quốc Trung”, bà Đ đóng 11 kỳ 19.770.000 đồng x 2 phần = 39.540.000 đồng. Mua của bà R 01 phần ngày 10-9-2022, số tiền 49.500.000 đồng; đến ngày 10-4-2023 bà Đ đã nhận lãi 8.020.000 đồng.
  • + Dây 5 góp 02 phần tên “Điệp” và “Quốc Trung”, bà Đ đóng 11 kỳ số tiền 20.210.000 đồng x 2 phần = 40.420.000 đồng. Mua của bà R 01 phần ngày 10-9-2022 số tiền 49.500.000 đồng; bà Đ đã hốt hụi ngày 10-3-2023, bỏ thâm số tiền 1.210.000 đồng, 10 phần chết, 15 phần sống; bà Đ đã nhận số tiền 55.350.000 đồng (trừ cò 1.500.000 đồng).

5/ Hụi mở ngày 10-8-2022

5.1 Hụi góp 5.000.000 đồng/tháng, góp 01 phần đóng 9 kỳ số tiền 27.540.000 đồng.

5.2 Hụi góp 3.000.000 đồng/tháng:

  • + Dây 1 góp 01 phần đóng 09 kỳ số tiền 17.110.000 đồng.
  • + Dây 2 góp 01 phần, hốt ngày 10-3-2023, bỏ thâm số tiền 1.260.000 đồng, sống 17 phần, chết 07 phần; bà Đ đã nhận số tiền 49.080.000 đồng (trừ cò 1.500.000 đồng); đến khi mãn, bà Đ đóng 17 kỳ hụi chết số tiền 51.000.000 đồng

6/ Hụi mở ngày 30-01-2023: Lúc đầu bà Đ nói sẽ chơi các dây hụi này nhưng giữa bà R và bà Đ chưa thống nhất được số tiền lãi bà R phải đóng cho bà Đ; các dây hụi này bà Đ chưa đóng kỳ nào.

Số tiền hụi thực tế của bà Đ đã đóng 393.930.000 đồng. bà Rô m của bà Đ số tiền 230.000.000 đồng,đã trả lãi số tiền 177.600.000 đồng. Cụ thể số tiền 100.000.000 đồng trả lãi 14 tháng = 84.000.000 đồng; số tiền 130.000.000 đồng trả lãi 12 tháng = 93.600.000 đồng. Bà R còn thiếu bà Đ số tiền 52.400.000 đồng.

Tổng số tiền bà Đ góp 393.930.000 đồng + 52.400.000 đồng = 446.330.000 đồng.

Bà R xác nhận khi người muốn bán hụi, bà R giới thiệu cho bà Đ và có ghi vào sổ hụi của bà Đ. Hụi viên bán, do bà R giới thiệu vì là chủ hụi, còn tiền bà R không liên quan và cũng không thu lợi từ việc mua bán giữa các bên; bà Đ yêu cầu bà R trả những phần hụi này không đồng ý.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Thế A trình bày:

Ông P không đồng ý trả các khoản nợ hụi Vợ chồng ông P đã ly thân từ năm 2011 đến nay, không còn sống chung nhà nhiều năm, tiền ai làm người ấy tiêu xài, không sử dụng tiền chung. bà R làm hụi ông P không biết, tiền làm hụi bà R kiếm được, ông P không sử dụng, ông P sinh sống nhờ công việc cạo mủ cao su và cho thuê đất.

Luật sư Hồ Dương L trình bày:

Bà Đ có góp hụi do bà R làm chủ thảo, có đóng tiền hụi cho bà R; bà Đ yêu cầu bà R, ông P trả số tiền 3.123.070.000 đồng; nhưng số tiền hụi bà Đ đóng cho bà R ước tính trên tiền hụi trung bình phải đóng, do không có sổ sách đối chiếu; đề nghị căn cứ vào Sổ ghi chép hụi do bà R cung cấp để xét số tiền hụi từng dây hụi bà Đ đã đóng.

Bà R thừa nhận mua hụi thông qua bà R; hụi viên muốn bán hụi thông qua chủ hụi; hụi viên bán hụi phải đóng tiền hụi chết thông qua chủ hụi. Bà R cho rằng bà Đ đã hốt hụi nhưng không chứng minh đã giao tiền hốt hụi cho bà Đ; đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bà R thừa nhận có vay số tiền 230.000.000 đồng, bà R cho rằng có đóng lãi nhưng không chứng minh được. Theo bà R, số tiền 230.000.000 đồng, tiền lãi mỗi tháng phải trả 6%; sổ ghi chép hụi thể hiện tiền lãi 6.000.000 đồng, nếu tính lãi của số tiền 230.000.000 đồng lãi suất 6%/tháng, tiền lãi hàng tháng không phải 6.000.000 đồng;

Bà R thừa nhận trước khi bể hụi, bà Đ cho bà Rô mượn các dây hụi mãn để lấy tiền trang trải các khoản tiền hụi, 2bên đã chốt số tiền nợ 1.400.000.000 đồng và 937.500.000 đồng. Bà R thừa nhận ký tên vào giấy nợ, bà Đ đã cung cấp; bà R cho rằng có sự hùn giữa bà Đ và bà R để duy trì hụi kiếm lời, nhưng bà R không chứng minh được;

Trách nhiệm trả nợ: Biên bản xác minh, bà R và ông P có hôn nhân từ trước năm 1981, hôn nhân thực tế, quyền và nghĩa vụ của bà R, ông P được xác lập tại Điều 27, 30, 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình; bà R, ông P có trách nhiệm trả nợ cho bà Đ.

Bản án sơ thẩm số 164/2023/DS-ST ngày 02-10-2023 của TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; quyết định:

Căn cứ vào các điều 147, 165, 166, 228, 244 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 166, 278, 288, 463, 466, 468, 471 của Bộ luật Dân sự; các Điều 27, 30 và 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Kim Đ2 với bà Huỳnh Ngọc R và ông Huỳnh Văn P về việc “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi, vay tài sản và đòi lại tài sản”.

Buộc bà Huỳnh Ngọc R và ông Huỳnh Văn P có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Ngô Thị Kim Đ3 tiền là 4.636.245.300 (Bốn tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn ba trăm) đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 4.458.870.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 02-10-2023 là 177.375.300 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà R, ông P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Kim Đ đối với bà Huỳnh Ngọc R và ông Huỳnh Văn P về số tiền 1.054.324.700 (Một tỷ không trăm năm mươi bốn triệu ba trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm) đồng.

3. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 04/2023/QĐ-BPKCTT ngày 04-7-2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với tài sản bị phong tỏa là quyền sử dụng đất diện tích 3.147,9 m² thuộc thửa đất số 809 tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh do ông Huỳnh Văn P đứng tên.

Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2023/QĐ-BPKCTT ngày 04-7-2023 không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Chi phí tố tụng khác: Bà R, ông P phải chịu số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng chi phí định giá tài sản để hoàn trả cho bà Đ.

Bản án còn quyết định án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 13-10-2023, bà Đ có đơn kháng cáo đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà. Ngày 05-6-2024 bà Đ có đơn bổ sung kháng cáo yêu cầu xem xét lại số hụi bà đã mua.

Ngày 13-10-2023, bà R có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, lý do không đồng ý bản án sơ thẩm.

Ngày 09 tháng 10 năm 2023, ông P có đơn kháng cáo không chấp nhận cùng bà R trả nợ.

Tại phiên toà:

  • + Nguyên đơn, ông P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • + Bà Đ có khi yêu cầu huỷ quyết định áp dụng biên pháp khẩn cấp tạm thời, có khi không yêu cầu huỷ;
  • + Bà R xác định yêu cầu kháng cáo như sau: Đồng ý trả cho bà Đ số tiền góp hụi và tiền mua hụi, tổng số tiền 1.597.000.000 đồng và trả số tiền vay 45.000.000 đồng, bà R không có yêu cầu khác.
  • + Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông P đề nghị không buộc ông P phải cùng bà R liên đới trả tiền cho bà Đ không được chấp nhận;
  • + Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận 1 phần kháng cáo của nguyên đơn; không chấp nhận kháng cáo của ông P và bà R; Sửa bản án sơ thẩm, buộc ông P và bà R trả cho bà Đ số tiền hụi và tiền vay; số tiền hụi 2.337.500.000 đồng. Ngoài ra, bà Đ có tham gia góp hụi và mua hụi, có cơ sở xác định bà Đ chưa hốt. Tuy nhiên, bà Đ yêu cầu được hưởng tiền lãi theo giá hụi chết, do các hụi viên đã bán hụi không có cơ sở chấp nhận. Đối với ông P và bà R không có chứng cứ chứng minh bà R tổ chức góp hụi để phục vụ cho cá nhân riêng của bà R; không phục vụ chung cho gia đình; nên không chấp nhận kháng cáo của ông P và bà R.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nội dung vụ kiện được các đương sự thống nhất như sau

[1.1] Bà Đ và bà R thống nhất xác định các bên có xát lập giao dịch về tiền vay từ các dây hụi mở đã kết thúc; có xát lập giao dịch góp hụi, với số tiền hụi góp mỗi tháng 3.000.000 đồng và 5.000.000 đồng; thời gian mở hụi và kết thúc hụi, thời gian bà R đã vở hụi 10-4-2022.

[1.2] Hình thức tổ chức góp hụi: Đến kỳ khui hụi mỗi tháng, bà Đ có ghi chép vào Sổ hụi của bà R đối với những hụi viên đã bỏ thâm cao, được lĩnh hụi. Bà R trực tiếp nhận tiền hụi của hụi viên sau mỗi kỳ bỏ thâm hụi và trực tiếp giao tiền hụi cho các hụi viên đã bỏ thâm cao được lĩnh tiền hụi.

[1.3] Khi bà R giao tiền cho hụi viên được lĩnh hụi, bà R cho hụi viên được lĩnh hụi ký tên nhận tiền vào Sổ hụi của bà R do bà R quản lý; bà R ghi trên giấy số tiền hụi mà hụi viên được lĩnh hụi và giao giấy cho hụi viên được lĩnh, để biết số tiền hụi được lĩnh;

[1.4] Bà Đ mua hụi của các hụi viên, được bà R đồng ý trực tiếp ghi vào Danh sách hụi của bà Đ quản lý; mỗi kỳ khui hụi, những hụi viên đã bán hụi cho bà Đ có nghĩa vụ đóng hụi chết cho bà R; bà R có nghĩa vụ thanh toán tiền lời từ việc mua hụi cho bà Đ.

[1.5] Hiện nay bà R còn nợ bà Đ số tiền vay 230.000.000 đồng; uy nhiên không thống nhất lãi suất; bà bà R không chứng minh được lãi suất trả cho bà Đ 6%/tháng, nên không có căn cứ; xem xét; Toà án sơ thẩm buộc bà R trả số tiền vay 230.000.000 đồng phù hợp; căn Điều 278 của Bộ luật Dân sự; số tiền lãi trả cho bà Đ tính từ ngày 30-5-2023 đến khi xét xử vụ án phù hợp pháp luật với số tiền lãi phải trả 7.794.500 đồng (230.000.000 đồng x 10%/năm x 04 tháng 02 ngày);

[1.6] Bà R còn nợ số tiền hụi 1.400.000.000 đồng đã kết thúc ngày 30-12-2022 và số tiền 937.500.000 đồng của dây hụi kết thúc ngày 20-02-2023; các bên có lập giấy nợ, không thỏa thuận lãi suất và thời gian trả nợ; căn cứ Điều 278 của Bộ luật Dân sự; tiền lãi tính từ ngày 30-5-2023, đến khi xét xử vụ án phù hợp; Toà sơ thẩm buộc bà R trả số tiền hụi 2.337.500.000 đồng và tính tiền lãi phải trả 79.215.300 đồng (2.337.500.000 đồng x 10%/năm x 04 tháng 02 ngày ) có căn cứ.

[1.7] Đối với các dây hụi mở ngày 10-4-2021; hụi góp 5.000.000 đồng và 3.000.000 đồng do bà Đ mua gồm:

Hụi 5.000.000 đồng mua của “Thiệt” “Mót” “Tô Hằng”, “Bé C1”;

H4 3.000.000 đồng mua của “Khương” của “Liễu O”;

Đối với các dây hụi mở ngày 20-12-2021; hụi 5.000.000 đồng/tháng, Đ mua 08 phần của “Hí Hiền”, “Cân”, C3, P1, T2, Liễu 01, L1, Đèo H5. Hụi 3.000.000 đồng/tháng mua 01 của “Duyên, T2, của Tịnh H2, của Như, K, Thủy N1”;

[1.8] Đối với các dây hụi mở ngày 10-6-2022:

Hụi 5.000.000 đồng, bà Đ mua của “Hý Hiền”.

Hụi 3.000.000 đồng mua của “Rô” 4 dây 4 phần.

[1.9] Tuy nhiên, bà R cho rằng, bà Đ đã hốt các phần hụi mua của hụi viên, nhưng không có chứng cứ, bà Đ không thừa nhận; Tại Toà án phúc thẩm, bà R cho rằng khi hụi viên lĩnh hụi, bà R giao tiền hụi, cho hụi viên ký nhận tiền vào sổ hụi của bà R; riêng bà Đ lĩnh hụi, bà R đã giao tiền hụi cho bà Đ nhưng không cho bà Đ ký tên nhận tiền hụi; như vậy bà R không có chứng cứ chứng minh bà Đ đã lĩnh tiền hụi, bà Đ không thừa nhận. Ngoài ra, các hụi viên tham gia góp hụi cùng bà R và Đ đều xác định bà Đ không có kỳ khui hụi nào, bà Đ bỏ thâm hụi cao để lĩnh tiền hụi.

[2] Bà Đ kháng cáo có căn cứ được chấp nhận. Tuy nhiên, hụi bị vở từ ngày 10-4-2023, nhưng bà Đ yêu cầu trả số tiển hụi đến ngày kết thúc hụi không phù hợp, yêu cầu trả tiền lãi theo giá hụi chết không phù hợp, nên chấp nhận 1 phần kháng cáo của bà Đ;

[3] Đối với kháng cáo của ông P cho rằng không đăng ký kết hôn với bà R; đã ly thân và ông P sống tự thân, thu nhập từ nguồn tiền cạo mũ cao su thuê và cho thuê đất; nhưng ông P không chứng minh được trình bày của ông có căn cứ.

[4] Người bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của ông P cho rằng giấy nợ vay của bà R không được ông P ký tên; nhưng số tiền vay từ nguồn tiền tham gia góp hụi của bà Đ. Mặt khác, bà R tổ chức góp hụi tại nhà thời gian dài, ông P biết, ông P chưa khi nào ngăn cản, thông báo cho các hụi viên biết việc ông không có nghĩa vụ đối với bà R trong việc tổ chức góp hụi, nên Toà án sơ thẩm buộc ông P và bà R có nghĩa vụ trả nợ cho bà Đ là đúng pháp luật, không chấp nhận ý kiến của Luật sư;

[5] Bà R kháng cáo cho rằng còn nợ bà Đ số tiền hụi 1.597.000 đồng và tiền vay 45.000.000 đồng không có căn cứ chấp nhận.

[6] Kiểm sát viên đề nghị có căn cứ, nên chấp nhận.

[7] Đối với Quyết định số 04/2023/QĐ-BPKCTT ngày 04-7-2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu; Về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”; đối với tài sản bị phong tỏa là quyền sử dụng đất; có diện tích 3.147,9m², thuộc thửa số 809, Tờ bản đồ số 37; tại ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; Đất được cấp cho ông Huỳnh Văn P; được thực hiện theo Điều 138 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bà Ngô Thị Kim Đ không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Ngô Thị Kim Đ.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Ngọc R, ông Huỳnh Văn P.

Sửa Bản án sơ thẩm số: 164/2023/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào các Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 166, 288, 463, 466, 468, 471 của Bộ luật Dân sự; các Điều 27, 30 và 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Kim Đ đối với bà Huỳnh Ngọc R, ông Huỳnh Văn P“Về việc tranh chấp dân sự về Hợp đồng góp hụi, vay tài sản và Đòi tài sản”.
  2. Buộc bà Huỳnh Ngọc R và ông Huỳnh Văn P có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Ngô Thị Kim Đ số tiền 5.275.264.321 (năm tỷ, hai trăm, bảy mươi lăm triệu, hai trăm, sáu mươi bốn ngàn, ba trăm, hai mươi mốt) đồng;
  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bà R và ông P phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  4. Không chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Kim Đ đối với bà Huỳnh Ngọc R và ông Huỳnh Văn P trả số tiền 415.305.679 (bốn trăm, mười lăm triệu, ba trăm, lẽ năm ngàn, sáu trăm, bảy mươi chín) đồng.
  5. Quyết định số 04/2023/QĐ-BPKCTT ngày 04-7-2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu; về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”; đối với tài sản bị phong tỏa là quyền sử dụng đất diện tích 3.147,9 m², thuộc thửa đất số 809, Tờ bản đồ số 37; tại ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; Đất cấp cho ông Huỳnh Văn P; được thực hiện theo Điều 138 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  6. Chi phí tố tụng khác: Bà Huỳnh Ngọc R, ông Huỳnh Văn P có nghĩa vụ thanh toán cho bà Ngô Thị Kim Đ số tiền 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng.
  7. Án phí dân sự sơ thẩm, dân sự phúc thẩm: Bà Đ, bà R và ông P được miễn.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS GD;
  • - TAND huyện GD;
  • - Đương sự;
  • - Lưu TDS;
  • -Lưu hồ sơ, tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Minh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 332/2024/DS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi

  • Số bản án: 332/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Kim Điệp - Huỳnh Ngọc Rô
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger