Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 331/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22-4-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy;

Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai;

Ông Nguyễn Văn Thư.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga- Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hà Thanh- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 63/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024 về Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXX-ST ngày 13/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐHPT-ST ngày 05/4/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1988; ĐKNKTT: Số G, ngõ L, phường V, quận Đ, Hà Nội; Nơi cư trú: Số nhà C, ngõ C A, phường P, quận T, Hà Nội.

Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1984; ĐKNKTT và cư trú: Số G, ngõ L, phường V, quận Đ, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/8/2023 và bản tự khai ngày 24/01/2024, nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:

Về tình cảm: Chị và anh Nguyễn Tuấn D kết hôn có đăng ký kết hôn ngày 11/5/2010 tại UBND phường V, quận Đ, Hà Nội. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không hiểu nhau, cuộc sống không hòa hợp. Anh chị không thể nói chuyện với nhau trong nhiều năm dẫn đến mâu thuẫn kéo dài. Chị đã chuyển ra ngoài ở riêng từ tháng 01/2020, anh chị ly thân từ đó đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh D.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 27/01/2011 và cháu Nguyễn Thu H1, sinh ngày 30/12/2013. Ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con, trường hợp các con có nguyện vọng ở với bố thì chị tôn trọng ý kiến của các con. Hiện các con vẫn ở cùng với anh D nhưng do anh D không có việc làm nên mọi chi phí liên quan đến các con đều do chị T chu cấp. Chị T hiện đang làm nghề tự do, thu nhập hàng tháng khoảng 8.000.000 đồng, đủ khả năng nuôi con.

Về tài sản chung, nhà ở, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/3/2024, bị đơn anh Nguyễn Tuấn D trình bày nhưng không ký biên bản: Anh D1 và chị T kết hôn năm 2010 có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, quận Đ, Hà Nội. Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau tại nhà ở L, V. Đến năm 2020 chị T tự ý chuyển ra khỏi nhà về quê tại Thanh Hóa, từ đó đến nay chị không về L sinh sống nữa. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh, nếu chị T vẫn cố tình ly hôn thì cứ để pháp luật giải quyết.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 27/01/2011 và cháu Nguyễn Thu H1, sinh ngày 30/12/2013. Trường hợp ly hôn anh D1 đề nghị được nuôi cả 02 con để các cháu không phải xa cách. Anh Dũng không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nhà ở, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày: Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Tuấn D. Về con chung: Chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con, nhưng nếu các con có nguyện vọng ở với ai thì chị sẽ tôn trọng ý kiến của các con. Về tài sản chung, nhà ở, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Tuấn D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật TTDS về phiên tòa sơ thẩm. Các quy định về phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng đều được HĐXX thực hiện theo đúng quy định tại Chương 14 BLTTDS.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70,71,234 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tuấn H cho anh Nguyễn Tuấn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Thu H1 cho chị Lê Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, nhà ở, nợ chung: Không xem xét giải quyết. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Tuấn D kết hôn ngày 11/5/2010 có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, quận Đ, Hà Nội do vậy là hôn nhân hợp pháp. Anh Dũng có đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú tại số G, ngõ L, phường V, quận Đ, Hà Nội. Ngày 18/8/2023 chị T gửi đơn xin ly hôn anh D, yêu cầu của chị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội theo quy định tại điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Tuấn D đã được niêm yết, tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh D.

[2] Về nội dung: Căn cứ lời khai của các đương sự và kết quả xác minh tại địa phương cho thấy: Anh Dũng chị T chung sống với nhau đến năm 2020 thì ly thân, chị T chuyển đi nơi khác ở, chỉ thỉnh thoảng về thăm con. Anh D1 và chị T đã sống ly thân một thời gian dài, không cùng nhau xây dựng cuộc sống chung, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị T xin ly hôn anh D1 là có căn cứ theo quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 27/01/2011 và cháu Nguyễn Thu H1, sinh ngày 30/12/2013, hiện hai con đang ở cùng anh D1. Ly hôn anh D1 có nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Chị T cũng có nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con, trường hợp các con có nguyện vọng ở với bố thì chị tôn trọng ý kiến của các con. Xét cháu H là con trai có nguyện vọng được ở với bố, cháu H1 là con gái có nguyện vọng được ở với mẹ. Nguyện vọng của hai cháu phù hợp với tâm sinh lý giới tính nên chấp nhận. Giao cháu Nguyễn Thu H1 cho chị Lê Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Tuấn H cho anh Nguyễn Tuấn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nhà ở, nợ chung: Anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;

- Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị T. Chị Lê Thị T được ly hôn anh Nguyễn Tuấn D.
  2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 27/01/2011 và cháu Nguyễn Thu H1, sinh ngày 30/12/2013. Giao cháu Nguyễn Thu H1 cho chị Lê Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Tuấn H cho anh Nguyễn Tuấn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Chị Lê Thị T, anh Nguyễn Tuấn D có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

  3. Về tài sản chung, nhà ở, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 922369 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Đống Đa, Hà Nội. Chị T đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Tuấn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

- TAND Thành phố HN;

- VKS Q.Đống Đa, VKS Hà Nội;

- Chi cục Thi hành án Q.Đống Đa;

- UBND phường Văn Chương, Đống

Đa, Hà Nội (GCN kết hôn số

61/2010 ngày 11/5/2010);

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ;

- Lưu văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 331/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, TP. HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 331/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger