Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 331/2025/HSST

Ngày: 06/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Công Danh
  • 2. Bà Nguyễn Thị Kim Yến
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 187/2025/HSST ngày 14 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn C. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

    Sinh năm 1985, tại Thanh Hóa.

    Nơi cư trú: Không xác định.

    Nơi đăng ký thường trú: thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa);

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Nguyễn Đức V, sinh năm 1958 (đã chết) và bà Phạm Thị X, sinh năm 1952. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 02; có vợ là Vũ Thị T, sinh năm 1987 và có 02 người con (sinh năm 2007 và 2009);

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 16/12/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại tạm giam khu vực B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nguyễn Văn T1. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

    Sinh năm 1988, tại tỉnh Lâm Đồng;

    Nơi cư trú: Không xác định.

    Nơi đăng ký thường trú: Thôn M, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 4/12. Nghề nghiệp: Tự do. Họ và tên cha: Không rõ. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1953. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu. Có vợ là Trần Thị Thu H, sinh năm 1993 và có 02 người con sinh năm 2016 và 2019.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    - Nhân thân: Ngày 24/9/2010, bị Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 114/2010/HSPT ngày 24/9/2010. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/10/2012.

    Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 16/12/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.

    Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại tạm giam khu vực B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Lê Quang T2. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

    Sinh năm 1992, tại Thanh Hóa.

    Nơi cư trú: Không xác định.

    Nơi đăng ký thường trú: thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Lê Quang N, sinh năm 1964 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1968. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 03; có vợ là Cao Thị T3, sinh năm 1991 và có 02 người con (sinh năm 2018 và 2020).

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 16/12/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại tạm giam khu vực B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Hoàng Văn T4. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

    Sinh năm 1983, tại Vĩnh Phúc.

    Nơi cư trú: Không xác định.

    Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Hoàng Văn L, sinh năm 1960 và bà Đặng Thị S1, sinh năm 1963. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Hoàng Lệ T5, sinh năm 1986 và có 02 người con (sinh năm 2005 và 2007).

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 16/12/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại tạm giam khu vực B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Mai Thành L1. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

    Sinh năm 1989, tại tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi cư trú: A, tổ G, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Mai Văn L2, sinh năm 1967 và bà Phạm Thị L3, sinh năm 1970. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 16/12/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại tạm giam khu vực B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  6. Họ và tên: Đặng Minh C1. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

    Sinh năm 1987, tại tỉnh Đồng Nai.

    Nơi cư trú: Tổ I, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Chỗ ở không đăng ký tạm trú).

    Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công giáo. Trình độ học vấn: 01/12. Nghề nghiệp: Buôn bán. Con ông Đặng Minh Đ1, không rõ năm sinh và bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1958. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út. Có vợ là Trương Thị N1, sinh năm 1985 và có 03 người con (lớn nhất sinh năm 2009 và nhỏ nhất sinh năm 2019).

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 16/12/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.

    Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ – Phân trại tạm giam khu vực B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn T1 và Hoàng Văn T4 là bạn bè với nhau. Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 15/12/2024, C1 tổ chức ăn uống tại nhà (địa chỉ thuộc tổ I, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) có mời những người bạn trên và một số người khác. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong, C rủ L1, T2, T1 và T4 đánh bạc thắng thua bằng tiền qua hình thức đánh bài "cào liêng" tại nhà của C1 thì C1 và tất cả đều đồng ý. Sau đó, C1 sắp xếp vị trí cho C, L1, T2, T1 và T4 đánh bạc tại khu vực phòng bếp và quy định khi kết thúc đánh bạc người nào thắng phải bỏ ra số tiền từ 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đến 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) để trả công cho C1 dọn dẹp. Sau đó, được một người tên "P" (không rõ họ và địa chỉ) là bạn quen biết của C1 đi mua 01 bộ bài Tây 52 lá để sử dụng đánh bạc (không xác định được ai là người nhờ P mua bài). Cách thức đánh bạc như sau:

  • - Các đối tượng đánh bạc bằng hình thức “cào liêng” sử dụng 01 bộ bài tây 52 lá, ngồi thành vòng tròn, không có người làm cái, người nào thắng lượt đánh bạc (gọi tắt là ván bạc) trước thì sẽ là người chia bài ván bạc tiếp theo. Bắt đầu đánh bạc, một trong những người tham gia đánh bạc (người chơi) sẽ chia đều cho tất cả những người chơi mỗi người 03 lá bài để tính điểm và xác định thắng thua. Cách thức tính điểm từ cao đến thấp như sau: “Sáp” > “Liêng” > “Đĩ” > 9 điểm > 0 điểm, cụ thể: (“Sáp” được hiểu là 03 lá bài có giá trị giống nhau và “Sáp" AAA là lớn nhất; “Liêng” được hiểu là 03 lá bài có giá trị liền kề, “Liêng” lớn nhất là QKA; “Đĩ” được hiểu là 03 lá bài “J, Q, K” nhưng không phải là “Sáp” hoặc “Liêng”. Điểm được xác định bằng tổng giá trị cả 03 lá bài (Các lá bài ký hiệu từ số 2 đến số 9 tương ứng số điểm là 02 đến 09 điểm; các lá bài ký hiệu số “10", "J", “Q”, “K” là 0 điểm; riêng lá bài “A” là 01 điểm). Trường hợp người chơi có số điểm bằng nhau thì xác định thắng thua dựa trên chất của các lá bài theo thứ tự từ cao đến thấp, tương ứng là C2 > Rô > Chuồn > Bích.
  • - Bắt đầu một ván bạc, mỗi người chơi đặt “tiền đường” số tiền 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) vào giữa chiếu bạc. Sau đó, người chia bài có quyền chọn hình thức "ẩm tẩy" hoặc “tố” hoặc úp bài (chấp nhận thua):
    • + Trường hợp "ẩm tẩy" thì sau khi chia bài, người chia bài đặt thêm số tiền từ 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) đến 80.000₫ (T7 mươi nghìn đồng) và những người chơi tiếp theo (theo vòng ngược chiều kim đồng hồ) có thể theo hoặc úp bài (chấp nhận thua), nếu theo thì phải đặt thêm số tiền gấp 02 lần số tiền của người vừa “ẩm tẩy”. Ván bài sẽ kết thúc khi chỉ còn một người “ẩm tẩy” cuối cùng, những người khác đều úp bài hoặc khi đã cân bằng số tiền “ẩm tẩy” giữa những người chơi và không ai thêm tiền thì lúc này sẽ so điểm xác định người thắng là người có điểm cao nhất theo cách tính đã quy ước nêu trên. Người thắng sẽ được hưởng toàn bộ số tiền được đặt của ván bài đó;
    • + Trường hợp “tố” đặt cược thêm tiền) từ 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) đến 300.000d (Ba trăm nghìn đồng) và những người chơi tiếp theo (theo vòng ngược chiều kim đồng hồ) có thể theo hoặc úp bài (chấp nhận thua), nếu theo thì phải đặt thêm số tiền bằng hoặc cao hơn số tiền của người vừa “tố”. Ván bài sẽ kết thúc khi chỉ còn một người “tố” cuối cùng, những người khác đều úp bài hoặc khi đã cân bằng số tiền “tố” giữa những người chơi và không ai thêm tiền thì lúc này sẽ so điểm xác định người thắng là người có điểm cao nhất theo cách tính đã quy ước nêu trên. Người thắng sẽ được hưởng toàn bộ số tiền được đặt của ván bài đó.

Tham gia đánh bạc: Nguyễn Văn C mang theo và sử dụng số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Nguyễn Văn T1 mang theo và sử dụng số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu, tám trăm nghìn đồng); Lê Quang T2 mang theo số tiền 3.200.000 đồng (Ba triệu, hai trăm nghìn đồng) và sử dụng số tiền 2.700.000₫ (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Hoàng Văn T4 mang theo số tiền 3.500.000₫ (Ba triệu, năm trăm nghìn đồng) và sử dụng số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Mai Thành L1 mang theo và sử dụng số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc.

Đến khoảng 22 giờ 00 phút, cùng ngày khi Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn T1 và Hoàng Văn T4 đang tiếp tục đánh bạc thì bị Đ2 Công an thành phố B bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố điều tra xử lý.

* Vật chứng vụ án gồm:

  • - 01 bộ bài tây 52 lá và 01 chiếu cói là công cụ các đối tượng sử dụng để đánh bạc.
  • - Số tiền 12.200.000đ ( Mười hai triệu, hai trăm nghìn đồng) sử dụng để đánh bạc, thu được của các bị cáo gồm: Nguyễn Văn C 2.700.000₫ (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng), Nguyễn Văn T1 3.800.000₫ (Ba triệu, tám trăm nghìn đồng), Lê Quang T2 2.700.000₫ (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng), Hoàng Văn T4 là 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) và Mai Thành L1 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc.
  • - Số tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm nghìn đồng), thu giữ trên người các bị cáo gồm: Lê Quang T2 số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) và Hoàng Văn T4 1.000.000đ (Một triệu đồng). Các bị cáo T2 và T4 xác định không sử dụng số tiền trên để đánh bạc.
  • - Thu giữ của các bị cáo: Đặng Minh C1 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A55; Mai Thành L1 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6S; Lê Quang T2 01 chiếc điện thoại di động Redmi 13 (màu xanh); Nguyễn Văn T1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M51 (màu đen) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO E6 (màu xanh); Hoàng Văn T4 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9+ và Nguyễn Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, là tài sản cá nhân của các bị cáo, không sử dụng vào hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho các bị cáo.

Tại cáo trạng số 213/CT-VKSBH-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo: Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn T4, về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà, các bị cáo Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn T4 khai nhận hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên là đúng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo điều khoản và tội danh như đã nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo như sau:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn T4 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2, Hoàng Văn T4, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đều có thân nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nên hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt các bị cáo như sau: Nguyễn Văn C từ 10 đến 12 tháng tù; Nguyễn Văn T1 từ 10 đến 12 tháng tù; Đặng Minh C1, Mai Thành L1, Lê Quang T2 và Hoàng Văn T4 cùng mức án từ 08 đến 10 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng: Viện kiểm sát đề nghị:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá và 01 chiếu cói là công cụ các đối tượng sử dụng để đánh bạc.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 12.200.000đ ( Mười hai triệu, hai trăm nghìn đồng) là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
  • - Đối với số tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) thu giữ trên người các bị cáo, trong đó của bị cáo: Lê Quang T2 số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) và Hoàng Văn T4 1.000.000đ (Một triệu đồng). Do không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị trả lại cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn T4 không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn T4, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • [1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  • [2] Về tội danh và khung hình phạt:

    Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở xác định:

    Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 15 tháng 12 năm 2024, tại nhà của Đặng Minh C1, thuộc tổ I, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo Đặng Minh C1 đã có hành vi tổ chức cho Nguyễn Văn C sử dụng số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng), Nguyễn Văn T1 sử dụng số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu, tám trăm nghìn đồng), Lê Quang T2 sử dụng số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng), Hoàng Văn T4 sử dụng số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) và Mai Thành L1 sử dụng số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) đánh bạc dưới hình thức “cào liêng” thắng thua bằng tiền thì bị phát hiện, bắt quả tang, điều tra xử lý. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 12.200.000đ (Mười hai triệu hai trăm nghìn đồng)

    Hành vi của các bị cáo Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn T4 nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.

  • [3] Vai trò đồng phạm trong vụ án:

    Xét vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, cấu thành không có tổ chức, các bị cáo đều tham gia với vai trò là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo C là người nảy sinh ý định phạm tội và rủ rê các bị cáo khác đánh bạc nên bị cáo là người giữ vai trò thứ nhất; Các bị cáo Mai Thành L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn T1 và Hoàng Văn T4 là những người trực tiếp và tích cực thực hiện hành vi phạm tội “Đánh bạc” và cùng giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến số tiền mà các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc để phân hóa tội phạm và quyết định mức hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo. Đối với bị cáo Đặng Minh C1 là người không trực tiếp tham gia đánh bạc, nhưng đã tổ chức cho 05 người đánh bạc trên 01 chiếu bạc nên bị cáo C1 là đồng phạm về tội “Đánh bạc” trong vụ án với vai trò tương xứng.

  • [4] Về tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo:

    Hành vi của các bị cáo tuy là ít nghiêm trọng, nhưng vi phạm pháp luật hình sự, đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, làm gia tăng tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc dưới mọi hình thức thắng thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục cải tạo đối với các bị cáo và cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với các bị cáo với mức phạt tiền tương xứng, đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.

  • [5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
    • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Xét thấy, tất cả các bị cáo trong vụ án, đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
    • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên tất cả các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2 và Hoàng Văn Trọng phạm T8 lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đều có thân nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nên các bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
    • - Bị cáo Nguyễn Văn T1, ngày 24/9/2010 bị Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản” (theo Bản án số 114/2010/HSPT ngày 24/9/2010). Bị cáo đã chấp hành xong bản án, mặc dù không xem là án tích trong vụ án này, nhưng được xem để đánh giá bị cáo là người có nhân thân xấu.
  • [6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
    • - Đối với 01 bộ bài tây 52 lá và 01 chiếu cói là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc, không còn giá trị sử dụng; Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.
    • - Đối với số tiền 12.200.000đ (Mười hai triệu, hai trăm nghìn đồng) là tiền sử dụng để đánh bạc, thu được của các bị cáo gồm: Nguyễn Văn C 2.700.000₫ (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng), Nguyễn Văn T1 3.800.000₫ (Ba triệu, tám trăm nghìn đồng), Lê Quang T2 2.700.000₫ (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng), Hoàng Văn T4 là 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) và Mai Thành L1 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Xét thấy, số tiền nêu trên là tiền mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
    • - Đối với số tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) thu giữ trên người của các bị cáo, gồm: Lê Quang T2 số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) và Hoàng Văn T4 1.000.000đ (Một triệu đồng). Cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • (Toàn bộ số vật chứng nêu trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/4/2025 và Biên lai thu tiền số 0002827 ngày 21/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
    • - Đối với các tài sản bị thu của các bị cáo, gồm: Đặng Minh C1 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A55; Mai Thành L1 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6S; Lê Quang T2 01 chiếc điện thoại di động Redmi 13 (màu xanh); Nguyễn Văn T1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M51 (màu đen) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO E6 (màu xanh); Hoàng Văn T4 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9+ và Nguyễn Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23.
    • Xét thấy, các tài sản nêu trên không liên quan đến việc đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chủ sở hữu, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  • [7] Đối với đối tượng tên P (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người mua hộ bài, có dấu hiệu đồng phạm giúp sức cho hành vi đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
  • [8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
  • [9] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định trong vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn Trọng phạm T8 “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
      • - Xử phạt: Nguyễn Văn C 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
      • Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn C 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
      • - Xử phạt: Lê Quang T2 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
      • Phạt bổ sung bị cáo Lê Quang T2 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
      • - Xử phạt: Hoàng Văn T4 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
      • Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Văn T4 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
      • - Xử phạt: Đặng Minh C1 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
      • Phạt bổ sung bị cáo Đặng Minh C1 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
      • - Xử phạt: Mai Thành L1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
      • Phạt bổ sung bị cáo Mai Thành L1 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
    2. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
      • - Xử phạt: Nguyễn Văn T1 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
      • Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T1 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
    3. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về xử lý vật chứng trong vụ án: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá và 01 chiếu cói;
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 12.200.000đ (Mười hai triệu, hai trăm nghìn đồng), trong đó của: Nguyễn Văn C 2.700.000₫ (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng), Nguyễn Văn T1 3.800.000₫ (Ba triệu, tám trăm nghìn đồng), Lê Quang T2 2.700.000đ (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng), Hoàng Văn T4 là 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) và Mai Thành L1 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
    • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm nghìn đồng). Trong đó: 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) của Lê Quang T2 và 1.000.000đ (Một triệu đồng) của Hoàng Văn T4. Để đảm bảo thi hành án.
    • (Toàn bộ số vật chứng nêu trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/4/2025 và Biên lai thu tiền số 0002827 ngày 21/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Đặng Minh C1, Nguyễn Văn C, Mai Thành L1, Lê Quang T2, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn T4; Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

  6. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP Biên Hòa;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai – Phân trại tạm giam khu vực Biên Hòa;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Hùng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 331/2025/HSST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc

  • Số bản án: 331/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Đặng Minh Cường, Nguyễn Văn Chương, Mai Thành Luân, Lê Quang Thắng, Nguyễn Văn Thuận, Hoàng Văn Trọng phạm tội “Đánh bạc”. 2. Về hình phạt: 2.1. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự; - Xử phạt: Nguyễn Văn Chương 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn Chương 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. - Xử phạt: Lê Quang Thắng 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024. Phạt bổ sung bị cáo Lê Quang Thắng 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. - Xử phạt: Hoàng Văn Trọng 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024. Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Văn Trọng 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. - Xử phạt: Đặng Minh Cường 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024. Phạt bổ sung bị cáo Đặng Minh Cường 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. - Xử phạt: Mai Thành Luân 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024. Phạt bổ sung bị cáo Mai Thành Luân 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. 2.2. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự; - Xử phạt: Nguyễn Văn Thuận 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn Thuận 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger