TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 331/2024/HS-ST
Ngày: 29-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.
- Ông Nguyễn Văn Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy L - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 297/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 298/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 323/2024/HSST-QĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1997 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1962; anh, chị, em ruột: 06 người kể cả bị cáo; vợ con: Chưa có;
Tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 03/9/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng theo Quyết định số 656/QĐ-TA. Ngày 06/9/2020, bị cáo chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/3/2024 chuyển tạm giam từ ngày 07/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Lê Trường L1, sinh năm: 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số D T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Khu phố A, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C1, sinh năm: 1965 và bà Tôn Nữ Thị T, sinh năm: 1967; anh, chị, em ruột: 02 người kể cả bị cáo; vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Ngày 28/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 239/2021/HSST. Ngày 28/5/2023, bị cáo chấp hành xong.
Nhân thân: Ngày 22/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đ theo Quyết định số 281/QĐ-TA. Ngày 16/10/2020, bị cáo chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/3/2024 chuyển tạm giam từ ngày 07/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Nguyễn Đình B, sinh năm: 1993 tại tỉnh Long An; nơi thường trú: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; chỗ ở: Khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N2, sinh năm: 1962 và bà Hoàng Thị Ngọc D (chết); anh, chị, em ruột: 02 người kể cả bị cáo; vợ: Lê Thị Kim N3, sinh năm: 1997, con: 01 người, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/3/2024 chuyển tạm giam từ ngày 07/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm: 1962; địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt)
Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1988; địa chỉ: Số C đường N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)
- Người làm chứng:
Chị Huỳnh Nguyễn Anh T2, sinh năm: 2005; địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Anh Nguyễn Thành C2, sinh năm: 2002; địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Ông Hoàng Thanh N4, sinh năm: 1993; địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 01/3/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện C Công an xã T, huyện C kiểm tra hành chính nhà trọ số 372 N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi kiểm tra đến Phòng số 2 do Nguyễn Văn C thuê ở thì phát hiện có các đối tượng gồm: Nguyễn Văn C, Lê Trường L1, Huỳnh Nguyễn Anh T2 và Nguyễn Đình B; trên nền gạch có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu, cạnh vị trí L1 ngồi có 01 đoạn ống nhựa chứa tinh thể không màu. Chón khai nhận tinh thể màu nâu trong ống thủy tinh và tinh thể không màu trong đoạn ống nhựa đều là ma túy đá do B và L1 cùng góp tiền đưa cho C đi mua của một nam thanh niên tên Trần Thanh T3 (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để sử dụng. Công an tiến hành bắt quả tang và đưa về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ: 03 (ba) điện thoại di động, 01 (một) xe máy biển số 67M8-5664, 01 (một) xe máy biển số 59Y3-042.29, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy có ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu, 01 (một) đoạn ống nhựa chứa tinh thể không màu.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn C, Nguyễn Đình B và Lê Trường L1 không thu giữ gì thêm.
Việc xét nghiệm (test) chất ma túy đối với Nguyễn Văn C, Nguyễn Đình B, Lê Trường L1 và Huỳnh Nguyễn Anh T2 cho kết quả dương tính (+) với chất ma túy tổng hợp.
Qua điều tra xác định:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/3/2024, C và T2 đang ở tại phòng trọ của C tại ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì L1 chở B đến chơi. Một lúc sau, L1 rủ C và B góp tiền mua ma túy sử dụng, B đồng ý, C không có tiền nên chịu trách nhiệm đi mua ma túy. B góp số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) và L1 góp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) bằng cách chuyển tiền cho C qua ứng dụng ví MoMo. Sau đó, C liên lạc người thanh niên bán ma túy tên Trần Thanh T3 (không rõ lai lịch) qua tài khoản Zalo “Bé B1” hỏi mua ma túy với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). T3 đồng ý và yêu cầu C chuyển tiền qua ví MoMo số điện thoại 0396.632.xxx, T3 sẽ đặt người chạy xe Grab đến giao và hẹn gặp trước nhà trọ của C đang ở. Khoảng 30 phút sau, có người thanh niên chạy xe G (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0876.454.xxx gọi cho C thông báo đã đến trước nhà trọ. Chón đi ra nhận 01 gói giấy bên trong có chứa gói ma túy mang vào phòng trọ đưa cho L1 mở hộp giấy ra xem, C đi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy để trên nền gạch, L1 đưa lại cho C gói ma túy, C cầm lấy gói ma túy chiết một ít vào bộ dụng cụ. Phần ma túy còn lại, C chiết vào 01 đoạn ống nhựa hàn kín lại rồi giao cho L1. L1 cầm lấy tép ma túy để trên nền gạch cạnh chỗ ngồi rồi L1, B, C và T2 thay phiên nhau đốt ma túy sử dụng cho đến khi lực lượng Công an vào kiểm tra bắt quả tang như đã nêu ở trên.
Ngoài ra, các đối tượng C, L1, B và T2 còn khai nhận trước đó đã cùng nhau sử dụng chất ma túy nhiều lần tại phòng trọ của C. Chất ma túy, bộ dụng cụ là do C cung cấp, cụ thể:
Ngày 26 và 27/02/2024, C, L1 và B cùng sử dụng chất ma túy.
Ngày 29/02/2024, C và T2 cùng sử dụng chất ma túy.
Riêng Huỳnh Nguyễn Anh T2 không có liên quan đến hành vi phạm tội của C, L1 và B nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T2. Tuy nhiên, T2 có sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã giao đối tượng T2 cùng hồ sơ, tang vật có liên quan đến Công an xã N xử lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ (bút lục 02 - 03):
Thu giữ của Nguyễn Văn C:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số imei 1: 354874100758424/01, số imei 2: 354875100758421/01 đã qua sử dụng. Đây là điện thoại C sử dụng để liên lạc mua ma túy.
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu.
+ 01 kéo, 01 quẹt ga. Đây là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng chất ma túy.
Thu giữ của Nguyễn Đình B:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số imei 1: 355915101628972, số imei 2: 355916101628970 đã qua sử dụng. Đây là điện thoại B dùng để chuyển tiền hùn mua chất ma túy.
+ 01 xe mô tô biển số 59Y3-042.29, số khung RLHHC08032Y155872, số máy: HC08E0155892 đã qua sử dụng. Qua xác minh, đây là xe mô tô do ông Lê Hoàng V, sinh năm 2001, nơi thường trú: Ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mua và đứng tên chủ sở hữu vào năm 2020. Đến năm 2022, ông V bán xe này cho một thanh niên (không rõ lai lịch) nhưng không sang tên chủ sở hữu. Đến năm 2023, ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1962, nơi thường trú: Áp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An là cha ruột của bị cáo B mua xe của người thanh niên (không rõ lai lịch) nhưng chưa sang tên chủ sở hữu. Ngày 01/3/2024, ông N2 cho bị cáo B mượn xe này làm phương tiện đi lại. Việc bị cáo B sử dụng xe này đến phòng trọ của C để sử dụng chất ma túy thì ông N2 không biết.
Thu giữ của Lê Trường L1:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số imei 1: 353317095532660/01, số imei 2: 353318095532668/01 đã qua sử dụng. Đây là điện thoại L1 dùng để chuyển tiền hùn mua chất ma túy.
+ 01 ống nhựa chứa tinh thể không màu.
Thu giữ của Huỳnh Nguyễn Anh T2:
+ 01 xe mô tô biển số 67M8-5664 đã qua sử dụng. Ngày 05/3/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 820/QĐ-ĐTTH xử lý đối với xe mô tô biển số 67M8-5664, số máy: 153502, số khung: 00153502 bằng hình thức chuyển cho Công an xã N, huyện C xử lý theo thẩm quyền.
Vật chứng được nhập kho tại Đội cảnh sát Thi hành án Hình sự - Hỗ trợ Tư pháp Công an huyện C.
Tại bản Kết luận giám định số: 3075/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: (bút lục 88)
Gói 01: Tinh thể màu nâu được ký hiệu mẫu m₁ cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1905 gam, loại Methamphetamine.
Gói 02: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3285 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn C, Nguyễn Đình B và Lê Trường L1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Bản cáo trạng số: 277/CT-VKS.CC ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử:
Bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Bị cáo Nguyễn Đình B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Bị cáo Lê Trường L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Đình B và Lê Trường L1 thừa nhận toàn bộ hành vi của các bị cáo và đồng ý với Kết luận giám định số: 3075/K1-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K Công an Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo như bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt 02 (hai) tội trên đối với bị cáo C theo quy định.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt 02 (hai) tội trên đối với bị cáo B theo quy định.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Trường L1 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Trường L1 từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt 02 (hai) tội trên đối với bị cáo L1 theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo C không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo B không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo L1 không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo C nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo B nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo L1 nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa các bị cáo C, B và L1 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng số: 277/CT-VKS.CC ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 01/3/2024, tại nhà trọ số C N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện C, huyện C tiến hành kiểm tra hành chính Phòng trọ số 02 của Nguyễn Văn C thì phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn C, Nguyễn Đình B, Lê Trường L1 đang tàng trữ 01 đoạn ống nhựa chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3285 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng và 01 (một) ống thủy tinh bên trong có tinh thể màu nâu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0.1905 gam, loại Methamphetamine để cung cấp cho T2 sử dụng và cùng nhau sử dụng chung. Chất ma túy trên do Nguyễn Đình B, Lê Trường L1 hùn tiền để chuyển cho Nguyễn Văn C liên lạc mua về sử dụng tại phòng trọ của C vào ngày 01/3/2024. Ngoài ra C còn cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho C, L1 và B cùng nhau sử dụng vào ngày 26/02/2024, 27/02/2024 và cung cấp ma túy, dụng cụ cùng với T2 sử dụng ma túy tại phòng trọ của C vào ngày 29/02/2024. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Đình B và Lê Trường L1 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Đình B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Trường L1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng vào cơ thể sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người nên Nhà nước có chính sách quản lý độc quyền và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán chất ma túy và chế phẩm ma tuý. Các bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ việc tàng trữ, tổ chức sử dụng chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì thỏa mãn cơn nghiện mà các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo C, bị cáo B và bị cáo L1 là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự tại địa phương, là mầm mống phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài đủ để cải tạo và giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của các bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
[3] Tình tiết tăng nặng:
- Đối với bị cáo Nguyễn Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo chưa tốt cụ thể bị cáo có nhân thân xấu vào năm 2019 bị Tòa án nhân dân Quận 12 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng.
- Đối với bị cáo Lê Trường L1 có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm”. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu: Ngày 22/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đ theo Quyết định số 281/QĐ-TA. Ngày 16/10/2020, bị cáo chấp hành xong.
- Đối với bị cáo Nguyễn Đình B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 255, của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo C, L1, B là người nghiện ma túy, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với các vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị hoặc không sử dụng được gồm:
+ 01 đoạn ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu và 01 đoạn ống nhựa chứa tinh thể không màu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 953/2024 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên.
+ 01 cái kéo, 01 quẹt ga, 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy đã qua sử dụng. Đây là dụng cụ các bị cáo dùng để sử dụng ma túy;
Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S có số imei 1: 354874100758424/01, số imei 2: 354875100758421/01 đã qua sử dụng của bị cáo C. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S có số imei 1: 355915101628972, số imei 2: 355916101628970 đã qua sử dụng của bị cáo B. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S có số imei 1: 353317095532660/01, số imei 2: 353318095532668/01 đã qua sử dụng của bị cáo L1. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô biển số 59Y3-042.29, số khung RLHHC08032Y155872, số máy: HC08E0155892 đã qua sử dụng. Qua xác minh, đây là xe mô tô do ông Lê Hoàng V, sinh năm 2001, nơi thường trú: ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mua và đứng tên chủ sở hữu vào năm 2020. Đến năm 2022, ông V bán xe này cho một thanh niên (không rõ lai lịch) nhưng không sang tên chủ sở hữu. Đến năm 2023, ông Nguyễn Văn N2 (cha ruột của bị cáo B) mua xe của người thanh niên (không rõ lai lịch) nhưng chưa sang tên chủ sở hữu. Ngày 01/3/2024, ông N2 cho bị cáo B mượn xe này làm phương tiện đi lại. Việc bị cáo B sử dụng xe này đến phòng trọ của C để sử dụng chất ma túy thì ông N2 không biết. Tuy nhiên, ông N2 không cung cấp được giấy tờ mua bán hợp pháp nên không có căn cứ cho rằng ông N2 là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe này. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô biển số 67M8-5664 đã qua sử dụng thu giữ của Huỳnh Nguyễn Anh T2. Ngày 05/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 820/QĐ-MT xử lý bằng hình thức tách khỏi vụ án chuyển cho Công an xã N xử lý theo thẩm quyền là phù hợp; Viện kiểm sát không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Những vấn đề khác của vụ án:
- Đối với đối tượng Huỳnh Nguyễn Anh T2 được các bị cáo C, L1 và B cho sử dụng trái phép chất ma túy miễn phí nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự Thy và giao đối tượng T2 cùng hồ sơ, vật chứng có liên quan đến Công an xã N xử lý thẩm quyền là có căn cứ. Viện kiểm sát không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với ông Nguyễn Văn T1 không biết các bị cáo C, L1, và Bảo tàng T4, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà thuộc sở hữu của ông nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý đối với ông là có căn cứ. Viện kiểm sát không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với người thanh niên tên T3 sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo “Bé B1” và sử dụng tài khoản Momo: 0396632537 giao dịch bán trái phép chất ma túy cho bị cáo C hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp, Viện kiểm sát không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về điều luật, tội danh và hình phạt:
Đối với bị cáo Nguyễn Văn C :
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm tù.
- - Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
- - Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật Hình sự; Tổng hợp hình phạt tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
Đối với bị cáo Lê Trường L1:
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Trường L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt bị cáo Lê Trường L1 02 (hai) năm tù.
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Trường L1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Xử phạt bị cáo Lê Trường L1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
- - Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật Hình sự; Tổng hợp hình phạt tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo Lê Trường L1 phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
Đối với bị cáo Nguyễn Đình B:
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B 02 (hai) năm tù.
- - Căn cứ vào b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B 08 (tám) năm tù.
- - Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật Hình sự; Tổng hợp hình phạt tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo Nguyễn Đình B phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) gói niêm phong mang số vụ 953/2024 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 (một) cái kéo; 01 (một) cái quẹt ga; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu S có số imei 1: 354874100758424/01, số imei 2: 354875100758421/01 đã qua sử dụng của bị cáo C.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu S có số imei 1: 355915101628972, số imei 2: 355916101628970 đã qua sử dụng của bị cáo B.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu S có số imei 1: 353317095532660/01, số imei 2: 353318095532668/01 đã qua sử dụng của bị cáo L1.
- + 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 59Y3-042.29, số khung RLHHC08032Y155872, số máy: HC08E0155892 đã qua sử dụng.
- (Các vật chứng trên được liệt kê theo Phiếu nhập kho vật chứng số 786/LNK-ĐTTH ngày 06/5/2024 và Phiếu nhận kho vật chứng số 164/PNK ngày 26/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, bút lục 151, 152).
Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- - Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- - Buộc bị cáo Lê Trường L1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Đình B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Anh Đạt |
Bản án số 331/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 331/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: [1.1] Đối với bị cáo Nguyễn Văn C: - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm tù. - Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. - Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật Hình sự; Tổng hợp hình phạt tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024. [1.2] Đối với bị cáo Lê Trường L1: - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lê Trường L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Lê Trường L1 02 (hai) năm tù. - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lê Trường L1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Lê Trường L1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. - Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật Hình sự; Tổng hợp hình phạt tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo Lê Trường L1 phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024. [1.3] Đối với bị cáo Nguyễn Đình B: - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B 02 (hai) năm tù. - Căn cứ vào b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B 08 (tám) năm tù. - Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật Hình sự; Tổng hợp hình phạt tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo Nguyễn Đình B phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
