Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 331/2024/HS-ST

Ngày 13-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trương Vĩnh Mai.
  2. Bà Nguyễn Thị Bạn.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 13/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 322/2024/TLST-HS ngày 18/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 322/2024/QĐXXST-HS ngày 29/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 4 năm 2001, tại tỉnh Thanh Hoá.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh N1, sinh năm 1977 và con bà Ngô Thị H, sinh năm 1982; Bị cáo có vợ: Trần Thị T, sinh năm 2005 và có 01 con sinh năm 2024.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/5/2024 đến ngày 28/5/2024. Đến ngày 28/5/2024, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Đình T1, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

  3. Ông Phạm Hữu C1, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

  5. Bà Phạm Thị Ngọc N2, sinh năm 1957 (Vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Số H T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

  7. Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

  9. Ông Liên Quốc D1, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
  10. Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

  11. Ông Phan Quốc T2, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
  12. Địa chỉ: Số B Lô B, N, tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

  13. Ông Nguyễn Công B, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
  14. Địa chỉ: Thôn A, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

  15. Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
  16. Địa chỉ: Số B H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

  17. Bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1974 (Vắng mặt)
  18. Địa chỉ: Buôn K, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

  19. Ông Phạm Đình D2, sinh năm 1983 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  20. Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

  21. Bà Võ Thị Tú L, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
  22. Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

  23. Ông Huỳnh Phi H1, sinh năm 2004 (Vắng mặt)
  24. Địa chỉ: Buôn P, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.

  25. Bà Trần Thị T, sinh năm 2005 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  26. Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

  27. Ông Phạm Quốc N3, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
  28. Địa chỉ: Số F P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2001, trú tại: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, thông qua mối quan hệ xã hội quen biết với Lê Công A, sinh năm 2001, trú tại: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và Mai Văn V, sinh năm 2003, trú tại: Xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Khoảng đầu tháng 3 năm 2024, Nguyễn Văn Đ được Mai Văn V gọi điện thoại nói cho Đ biết về việc đang hoạt động cho vay tiền tại tỉnh Đắk Lắk, thì Đ nảy sinh ý định đi vào tỉnh Đắk Lắk để hoạt động cho người khác vay tiền với lãi suất cao. Nên giữa tháng 3 năm 2024, Đ vào thành phố B và ở cùng V và Lê Công A tại phòng số 408, khách sạn N4, địa chỉ số B N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Đ không làm cùng A và V mà tự đăng ký tài khoản fanpage trên nền tảng mạng xã hội facebook tên “Góp nhanh Đắk Lắk” và để số điện thoại 0356.793.xxx để khách liên hệ. Khi khách liên hệ thì Đ sẽ yêu cầu kết bạn Zalo qua số điện thoại 0356.793.xxx "Phong Bụi” để trao đổi, thống nhất khoản vay và cách thức trả tiền. Nguyễn Văn Đ cho vay tiền bằng hình thức vay tiền góp, có thể góp 21 ngày hoặc 25 ngày tùy theo thỏa thuận với người vay, cụ thể: Vay 10.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày thì mỗi ngày góp 600.000 đồng, thu phí mỗi khoản vay theo thỏa thuận hai bên, nếu góp 25 ngày mỗi ngày đóng 500.000 đồng, thu phí mỗi lần vay theo thỏa thuận hai bên. Tương đương với mức lãi suất từ 365%/năm đến 451,9%/năm. Sau khi hai bên thống nhất số tiền vay và lãi suất thì Đ sẽ đến nhà của người vay để kiểm tra. Lúc này, Đ giới thiệu mình tên là “P” và ghi thông tin người vay vào điện thoại, giữ lại giấy tờ cá nhân của người vay (Căn cước công dân, Giấy phép lái xe...). Sau đó, Đ dùng tài khoản số [...] Ngân hàng M mang tên Trần Thị T (tài khoản này của vợ Đ) để chuyển tiền cho người vay hoặc đưa tiền trực tiếp (thu trước 02 ngày tiền góp và tiền phí). Hàng ngày, khách sẽ chuyển tiền góp vào số tài khoản trên hoặc đưa tiền trục tiếp cho Đ. Khi vào tỉnh Đắk Lắk do không có phương tiện đi lại nên Đ mua 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh đen, biển số 47B1-368.14 của anh Phạm Quốc N3, sinh năm 1998, trú tại: F P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để làm phương tiện đi lại rồi cho vay tiền với lãi suất cao. Trong thời gian từ tháng 3/2024 đến tháng 5/2024, Nguyễn Văn Đ trực tiếp cho 12 người vay, thu lợi bất chính số tiền 65.516.947 đồng, cụ thể như sau:

  1. Anh Phạm Đình T1, sinh năm 1985, (trú tại: Thôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk) vay 02 lần tiền góp, cụ thể:
    • Lần 1: Ngày 06/5/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 600.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 400.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.200.000 đồng. Khoản vay này anh T1 đã trả đủ 21 ngày cả tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 12.600.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng, tiền lãi đã thu là 2.600.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 400.000 đồng – 115.068 đồng = 2.884.932 đồng.
    • Lần 2: Ngày 23/5/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 600.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 400.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.200.000 đồng. Khoản vay này anh T1 đã trả được 02 ngày cả tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 1.200.000 đồng, còn nợ lại 19 ngày với tổng số tiền là 10.400.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 10.959 đồng, tiền lãi đã thu là 247.619 đồng, Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 247.619 đồng + 400.000 đồng – 10.959 đồng = 636.660 đồng.
  2. Anh Phạm Hữu C1, sinh năm 1985, (trú tại:Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk): Ngày 17/5/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 300.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 300.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 600.000 đồng. Khoản vay này anh C1 đã trả được 09 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 2.700.000 đồng, còn nợ lại 12 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 3.600.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 24.658 đồng, tiền lãi đã thu là 557.143 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 557.143 đồng + 300.000 đồng – 24.658 đồng = 832.485 đồng.
  3. Bà Phạm Thị Ngọc N2, sinh năm 1957, (trú tại: 8 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 04 lần tiền góp, cụ thể:
    • Lần 1: Tháng 4/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng, góp trong vòng 25 ngày mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 1.000.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Khoản vay này bà N2 đã trả đủ tiền gốc và lãi với tổng số tiền là 25.000.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 273.973 đồng, tiền lãi đã thu là 5.000.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 5.000.000 đồng + 1.000.000 đồng – 273.973 đồng = 5.726.027 đồng.
    • Lần 2: Tháng 5/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, góp trong vòng 25 ngày mỗi ngày đóng 500.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 500.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.000.000 đồng. Khoản vay này bà N2 đã trả đủ 25 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 12.500.000 đồng (trả để đáo khoản vay mới). Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 136.986 đồng, tiền lãi đã thu là 2.500.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 2.500.000 đồng + 500.000 đồng – 136.986 đồng = 2.863.014 đồng.
    • Lần 3: Ngày 12/5/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng góp trong vòng 25 ngày mỗi ngày đóng 500.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 500.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.000.000 đồng. Khoản vay này bà N2 đã trả được 13 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 6.500.000 đồng, còn nợ lại 12 ngày với tổng số tiền là 6.000.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 71.233 đồng, tiền lãi đã thu là 1.300.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 1.300.000 đồng – 71.233 đồng = 1.228.767 đồng.
    • Lần 4: Ngày 19/5/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng, góp trong vòng 25 ngày mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 1.000.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Khoản vay này bà N2 đã được 06 ngày tiền gốc và tiền lãi với số tiền là 6.000.000 đồng, còn nợ lại 19 ngày với tổng số tiền là 19.000.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 65.753 đồng, tiền lãi đã thu là 1.200.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng + 1.000.000 đồng – 65.753 đồng = 2.134.247 đồng.
  4. Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1998, (trú tại: thôn T, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk) vay 02 lần tiền góp, cụ thể:
    • Lần 1: Tháng 4/2024, vay số tiền 15.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 900.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 900.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.800.000 đồng. Khoản vay này chị D đã trả đủ tiền gốc và lãi với tổng số tiền là 18.900.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 172.603 đồng, tiền lãi đã thu là 3.900.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 3.900.000 đồng + 900.000 đồng - 172.603 đồng = 4.627.397 đồng.
    • Lần 2: Ngày 03/5/2024, vay số tiền 15.000.000 đồng, góp trong vòng 25 ngày mỗi ngày đóng 750.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 750.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.500.000 đồng. Khoản vay này chị D đã trả 13 ngày cả tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 9.750.000 đồng, còn nợ lại 12 ngày với tổng số tiền là 9.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 106.849 đồng, tiền lãi đã thu là 1.950.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 1.950.000 đồng + 750.000 đồng - 106.849 đồng = 2.593.151 đồng.
  5. Anh Liên Quốc D1, sinh năm 1994, (trú tại: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 02 lần tiền góp, cụ thể:
    • Lần 1: Ngày 04/5/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng, góp trong vòng 25 ngày mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 1.000.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Khoản vay này anh D1 đã trả đủ tiền gốc và lãi với tổng số tiền là 25.000.000 đồng (trả để đáo khoản vay mới). Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 237.973 đồng, tiền lãi đã thu là 5.000.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 5.000.000 đồng + 1.000.000 đồng – 237.973 đồng = 5.726.027 đồng.
    • Lần 2: Ngày 15/5/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng, góp trong vòng 25 ngày mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 1.000.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Khoản vay này anh D1 đã trả được 07 ngày cả tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 7.000.000 đồng, còn nợ lại 18 ngày với tổng số tiền là 18.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 76.712 đồng, tiền lãi đã thu là 1.400.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 1.400.000 đồng + 1.000.000 đồng – 76.712 đồng = 2.323.288 đồng.
  6. Anh Phan Quốc T2, sinh năm 1982, (trú tại: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 01 lần tiền góp: Ngày 05/4/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 1.200.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 1.200.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 2.400.000 đồng. Khoản vay này anh T2 đã trả được 09 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 10.800.000 đồng, còn nợ lại 12 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 14.400.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 98.630 đồng, tiền lãi đã thu là 2.228.571 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 2.228.571 đồng + 1.200.000 đồng - 98.630 đồng = 3.329.941 đồng.
  7. Anh Nguyễn Công B, sinh năm 1989, (trú tại: thôn A, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 02 lần tiền góp, cụ thể:
    • Lần 1: Tháng 4/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 600.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 600.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.200.000 đồng. Khoản vay này anh B đã trả đủ tiền gốc và lãi với tổng số tiền là 12.600.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng, tiền lãi đã thu là 2.600.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 600.000 đồng – 115.068 đồng = 3.084.932 đồng.
    • Lần 2: Ngày 11/5/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 600.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 600.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.200.000 đồng. Khoản vay này anh B đã trả được 07 ngày cả tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 4.200.000 đồng, còn nợ lại 14 ngày với tổng số tiền là 8.400.000 đồng tiền gốc và tiền lãi. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 38.356 đồng, tiền lãi đã thu là 866.667 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 866.667 đồng + 600.000 đồng – 38.356 đồng = 1.428.311 đồng.
  8. Anh Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1993, (trú tại: Số B H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), vay 01 lần tiền góp: Ngày 20/5/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng, góp trong vòng 25 ngày mỗi ngày đóng 1.000.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 1.000.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Khoản vay này anh S đã trả 5 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 5.000.000 đồng, còn nợ lại 20 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 20.000.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 54.795 đồng, tiền lãi đã thu là 1.000.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 1.000.000 đồng + 1.000.000 đồng – 54.795 đồng = 1.945.205 đồng.
  9. Chị Hoàng Thị Q, sinh năm 1974, (trú tại: Buôn K, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk), vay 01 lần tiền góp: Ngày 02/4/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 1.200.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 1.200.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 2.400.000 đồng. Khoản vay này chị Q đã trả đủ 21 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 25.200.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 230.137 đồng, tiền lãi đã thu là 5.200.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 5.000.000 đồng + 1.200.000 đồng – 230.137 đồng = 6.169.863 đồng.
  10. Anh Phạm Đình D2, sinh năm 1983, (trú tại: Thôn T, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk), vay 02 lần tiền góp:
    • Lần thứ nhất: Vào tháng 4/2024, vay số tiền 7.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 450.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 400.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 900.000 đồng. Khoản vay này anh D2 đã trả đủ 21 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 9.450.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 80.548 đồng, tiền lãi đã thu là 2.450.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 2.450.000 đồng + 400.000 đồng – 80.548 đồng = 2.769.452 đồng.
    • Lần thứ hai: Vào ngày 24/4/2024, vay số tiền 7.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 450.000 đồng tiền gốc và lãi, không thu phí, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 900.000 đồng. Khoản vay này anh D2 đã trả 13 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 5.850.000 đồng, còn nợ lại 8 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 3.600.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 49.863 đồng, tiền lãi đã thu là 1.516.667 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 1.516.667 đồng – 80.548 đồng = 1.466.804 đồng.
  11. Chị Võ Thị Tú L, sinh năm 1986, (trú tại: Thôn A, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk), vay 04 lần tiền góp:
    • Lần thứ nhất: Vào ngày 05/4/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 600.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 600.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.200.000 đồng. Khoản vay này chị L đã trả đủ 21 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 12.600.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng, tiền lãi đã thu là 2.600.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 600.000 đồng – 115.068 đồng = 3.084.932 đồng.
    • Lần thứ hai: Vào ngày 16/5/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 600.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 600.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.200.000 đồng. Khoản vay này chị L đã trả được 09 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 5.400.000 đồng, còn nợ lại 12 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 7.200.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 49.315 đồng, tiền lãi đã thu là 1.114.286 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 1.114.286 đồng + 600.000 đồng – 49.315 đồng = 1.664.971 đồng.
    • Lần thứ ba: Vào tháng 5/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 300.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 300.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 600.000 đồng. Khoản vay này chị L đã trả đủ 21 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 6.300.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 57.534 đồng, tiền lãi đã thu là 1.300.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 1.300.000 đồng + 300.000 đồng – 57.534 đồng = 1.542.466 đồng.
    • Lần thứ tư: Vào ngày 11/5/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 300.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 300.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 600.000 đồng. Khoản vay này chị L đã trả được 08 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 2.400.000 đồng, còn nợ lại 13 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 3.900.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 21.918 đồng, tiền lãi đã thu là 495.238 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 473.320 đồng + 300.000 đồng – 21.918 đồng = 773.320 đồng.
  12. Anh Huỳnh Phi H1, sinh năm 2004, (trú tại: Buôn P, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk), vay 02 lần tiền góp:
    • Lần thứ nhất: Ngày 03/4/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 600.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 600.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.200.000 đồng. Khoản vay này anh H1 đã trả đủ 21 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 12.600.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 115.068 đồng, tiền lãi đã thu là 2.600.000 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 2.600.000 đồng + 600.000 đồng – 115.068 đồng = 3.084.932 đồng.
    • Lần thứ hai: Tháng 4/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng, góp trong vòng 21 ngày mỗi ngày đóng 300.000 đồng tiền gốc và lãi, thu phí 300.000 đồng, thu trước 02 ngày tiền góp với tổng số tiền là 1.200.000 đồng. Khoản vay này anh H1 đã trả đủ 05 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 1.500.000 đồng, còn nợ lại 16 ngày tiền gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 4.800.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 13.699 đồng, tiền lãi đã thu là 309.524 đồng Đ đã thu lợi bất chính số tiền: 309.524 đồng + 300.000 đồng – 13.699 đồng = 595.825 đồng. (BL: 56-80; 82-105; 106-198; 202-211; 212-295)

Tại, Kết luận giám định tài sản số: 219/KL-ĐGTS ngày 05/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: Xe mô tô biển số: 47B1-768.14, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu xanh đen; số máy: 1FC4-012873; số khung: RLCS1FC40EY012871, trị giá 5.500.000đồng.

Tại, Kết luận giám định số: 990/KL-KTHS ngày 09/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Xe mô tô mang biển kiểm soát 47B1-768.14, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu xanh - đen, số máy: 1FC4-012873; số máy: RLCS1FC40EY012871, số máy số khung không thay đổi, biển số thật.

Cáo trạng số 327/CT-VKS-HS ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và đúng theo nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 18 tháng đến 24 tháng Cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/5/2024 đến ngày 28/5/2024

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 BLTTHS năm 2015; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức, trả lại các giấy tờ thuộc sở hữu cho các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để quản lý và sử dụng, gồm:

  • + Trả cho anh Phạm Đình T1 01 (một) Căn cước công dân số: [...], mang tên: Phạm Đình T1 (bản chính); 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số AK 300309, mang tên Phạm Đình T1 (bản chính).
  • + Trả cho chị Nguyễn Thị Mỹ D 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Thị Mỹ D (bản chính).
  • + Trả cho bà Phạm Thị Ngọc N2 01 (một) Căn cước công dân số: [...], mang tên: Phạm Thị Ngọc N2 (bản chính).
  • + Trả cho anh Phạm Đình D2 01 (một) Căn cước công dân số: [...] mang tên: Phạm Đình D2 (bản chính).
  • + Trả cho anh Phan Quốc T2 01 (một) Căn cước công dân số: 04208003155 mang tên: Phan Quốc T2 (bản chính).
  • + Trả cho anh Huỳnh Phi H1 01 (một) Căn cước công dân số: [...] mang tên: Huỳnh Phi H1 (bản chính).
  • + Trả cho anh Phạm Hữu C1 01 (một) Căn cước công dân số: [...] mang tên: Phạm Hữu C1 (bản chính).
  • + Trả cho anh Nguyễn Hoàng S 01 (một) Căn cước công dân số: [...] mang tên: Nguyễn Hoàng S (bản chính).
  • + Trả cho anh Liên Quốc D1 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] mang tên Liên Quốc D1 (bản chính); 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Liên Quốc D1 (bản chính).
  • + Trả cho anh Nguyễn Công B 01 (một) bằng tốt nghiệp Trường Cao đẳng S2 số 00084450 mang tên Nguyễn Công B (bản chính); 01 (một) bộ hồ sơ bằng lái xe của Nguyễn Công B gồm: 01 (một) biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe (bản chính); 01 (một) đơn đề nghị học, sát hạch để cấp phép lái xe (bản chính); 01 (một) Chứng chỉ sơ cấp nghề số: 03/15 A (bản chính).
  • - Đối với 01 (một) Giấy đăng ký kết hôn của chị Võ Thị Tú L (bản chính), đề nghị trả lại cho chị Võ Thị Tú L quản lý.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno3, số IMEI 1: 860202042356130, số IMEI 2: 860202042356122, kèm sim điện thoại mạng Viettel có số thuê bao 0356793832 có số seri sim 8984048000904613233 thuộc sở hữu của bị cáo Đ sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 1/2 giá trị xe mô tô biển số: 47B1-768.14; Nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: SIRIUS; Màu sơn: Xanh đen; số máy: 1FC4-012873; số khung: RLCS1FC40EY012871; Dung tích xi lanh: 114 cm³; Năm SX: 2014; Số chỗ ngồi: 2, là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Nguyễn Văn Đ, do bị cáo Đ sử dụng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, chị Trần Thị T không biết việc bị cáo Đ sử dụng vào việc cho vay lãi suất cao trong giao dịch dân sự.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ trả lại số tiền 62.516.947 đồng đã thu lợi bất chính của những người vay tiền là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Cụ thể như sau:

  • Trả lại cho anh Phạm Đình T1 số tiền 3.521.592 đồng.
  • Trả lại cho anh Nguyễn Hữu C2 số tiền 832.485 đồng.
  • Trả lại cho bà Phạm Thị Ngọc N2 số tiền 11.952.055 đồng.
  • Trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ Duyên S1 tiền 7.220.548 đồng.
  • Trả lại cho anh Liên Quốc D1 số tiền 8.049.315 đồng.
  • Trả lại cho anh Phan Quốc T2 số tiền 3.329.941 đồng.
  • Trả lại cho anh Nguyễn Công B số tiền 4.513.242 đồng.
  • Trả lại cho anh Nguyễn Hoàng S số tiền 1.945.205 đồng.
  • Trả lại cho anh Huỳnh Phi H1 số tiền 3.680.757 đồng
  • Trả lại cho chị Hoàng Thị Q số tiền 6.169.863 đồng.
  • Trả lại cho anh Phạm Đình D2 số tiền 4.236.256 đồng.
  • Trả lại cho chị Võ Thị Tú L số tiền 7.065.688 đồng.

- Buộc truy thu để sung ngân sách nhà nước từ bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 190.714.286 đồng là tiền gốc mà bị cáo cho 12 người vay đã được các người vay trả lại và số tiền 2.368.767 đồng là tiền lãi theo quy định (lãi suất 20%) nộp sung ngân sách Nhà nước mà bị cáo đã hưởng lợi từ hoạt động cho vay lãi nặng.

- Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp số tiền 98.485.714 đồng còn nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Nguyễn Văn Đ để nộp sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:

  • Anh Phạm Đình T1 nộp lại số tiền 9.447.619 đồng.
  • Anh Nguyễn Hữu C2 nộp lại số tiền 2.857.143 đồng.
  • Bà Phạm Thị Ngọc N2 nộp lại số tiền 15.200.000 đồng.
  • Chị Nguyễn Thị Mỹ D nộp lại số tiền 7.200.000 đồng.
  • Anh Liên Quốc D1 nộp lại số tiền 14.400.000 đồng.
  • Anh Phan Quốc T2 nộp lại số tiền 11.428.571 đồng.
  • Anh Nguyễn Công B nộp lại số tiền 6.666.667 đồng.
  • Anh Nguyễn Hoàng S nộp lại số tiền 16.000.000 đồng.
  • Anh Huỳnh Phi H1 nộp lại số tiền 3.809.524 đồng.
  • Anh Phạm Đình D2 nộp lại số tiền 2.666.667 đồng.
  • Chị Võ Thị Tú L nộp lại số tiền 8.809.524 đồng.

Các vấn đề khác đề nghị HĐXX chấp nhận như nội dung tại bản Cáo trạng.

Bị cáo không tranh luận nội dung gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Trong thời gian từ tháng 3/2024 đến tháng 5/2024, tại địa bàn thành phố B, huyện C, huyện B, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã thực hiện cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự cho 12 người dân vay, gồm: Anh Phạm Đình T1, anh Phạm Hữu C1, bà Phạm Thị Ngọc N2, chị Phạm Thị Mỹ D3, anh Liên Quốc D1, anh Phan Quốc T2, anh Nguyễn Công B, anh Nguyễn Hoàng S, chị Hoàng Thị Q, anh Phạm Đình D2, chị Võ Thị Tú L và anh Huỳnh Phi H1 vay tiền với tổng số tiền cho vay là 294.000.000 đồng, thu tiền phí là 15.200.000 đồng và 49.235.714 đồng tiền lãi, số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 2.330.411 đồng, đã thu lợi bất chính tổng số tiền là (15.200.000 đồng + 49.235.714 đồng - 2.330.411 đồng) = 65.516.947 đồng, tương ứng với lãi suất từ 316,3%/năm, đến 365%/năm gấp từ 15,816 lần đến 18,25 lần so với lãi suất cho phép của nhà nước, thì bị phát hiện xử lý.

Vì vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

  1. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, hành vi cho vay lãi nặng của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân, mà còn gây nên những ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng việc cho người khác vay tiền và áp đặt mức lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên là phạm tội. Nhưng vì động cơ vụ lợi nên từ tháng 03/2024 đến tháng 05/2024 tại thành phố B, huyện C, huyện B, huyện E thuộc tỉnh Đắk Lắk, bị cáo đã dùng số tiền gốc là 294.000.000 đồng để cho 12 cá nhân vay tiền với mức lãi suất cao 316,3%/năm, đến 365%/năm gấp từ 15,816 lần đến 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính tổng số tiền là 62.516.947 đồng. Cho nên đối với bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt sao cho tương xứng với hành vi phạm tội. Có như vậy, mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
  2. Về hình phạt bổ sung: Để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật cần xử phạt bị cáo Đ 45.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
  3. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử cần áp dụng khi quyết định hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

    Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định trên, xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên Hội đồng xét xử không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo ngoài đời sống xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chình quyền địa phương kết hợp với gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

  4. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 BLTTHS năm 2015; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
    • - Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức, trả lại các giấy tờ thuộc sở hữu cho các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để quản lý và sử dụng, gồm:
      • Trả cho anh Phạm Đình T1 01 (một) Căn cước công dân số: [...], mang tên: Phạm Đình T1 (bản chính) ; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số AK 300309, mang tên Phạm Đình T1 (bản chính).
      • Trả cho chị Nguyễn Thị Mỹ D 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Thị Mỹ D (bản chính).
      • Trả cho bà Phạm Thị Ngọc N2 01 (một) Căn cước công dân số: [...], mang tên: Phạm Thị Ngọc N2 (bản chính).
      • Trả cho anh Phạm Đình D2 01 (một) Căn cước công dân số: [...] mang tên: Phạm Đình D2 (bản chính).
      • Trả cho anh Phan Quốc T2 01 (một) Căn cước công dân số: 04208003155 mang tên: Phan Quốc T2 (bản chính).
      • Trả cho anh Huỳnh Phi H1 01 (một) Căn cước công dân số: [...] mang tên: Huỳnh Phi H1 (bản chính).
      • Trả cho anh Phạm Hữu C1 01 (một) Căn cước công dân số: [...] mang tên: Phạm Hữu C1 (bản chính).
      • Trả cho anh Nguyễn Hoàng S 01 (một) Căn cước công dân số: [...] mang tên: Nguyễn Hoàng S (bản chính).
      • Trả cho anh Liên Quốc D1 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] mang tên Liên Quốc D1 (bản chính); 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Liên Quốc D1 (bản chính).
      • Trả cho anh Nguyễn Công B 01 (một) bằng tốt nghiệp Trường Cao đẳng S2 số 00084450 mang tên Nguyễn Công B (bản chính); 01 (một) bộ hồ sơ bằng lái xe của Nguyễn Công B gồm: 01 (một) biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe (bản chính); 01 (một) đơn đề nghị học, sát hạch để cấp phép lái xe (bản chính); 01 (một) Chứng chỉ sơ cấp nghề số: 03/15 A (bản chính).
    • - Trả lại 01 (một) Giấy đăng ký kết hôn (bản chính) cho chị Võ Thị Tú L là chủ sở hữu hợp pháp.
    • - Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno3, số IMEI 1: 860202042356130, số IMEI 2: 860202042356122, kèm sim điện thoại mạng Viettel có số thuê bao 0356793832 có số seri sim 8984048000904613233 thuộc sở hữu của bị cáo Đ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
    • - Đối với mô tô biển số: 47B1-768.14; Nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: SIRIUS; Màu sơn: Xanh đen; số máy: 1FC4-012873; số khung: RLCS1FC40EY012871; Dung tích xi lanh: 114 cm3; Năm SX: 2014; Số chỗ ngồi: 2, do bị cáo Đ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
    • - Đối với số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ trả lại số tiền 65.516.947 đồng đã thu lợi bất chính của những người vay tiền là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Cụ thể như sau:
      • Trả lại cho anh Phạm Đình T1 số tiền 3.521.592 đồng.
      • Trả lại cho anh Nguyễn Hữu C2 số tiền 832.485 đồng.
      • Trả lại cho bà Phạm Thị Ngọc N2 số tiền 11.952.055 đồng.
      • Trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ Duyên S1 tiền 7.220.548 đồng.
      • Trả lại cho anh Liên Quốc D1 số tiền 8.049.315 đồng.
      • Trả lại cho anh Phan Quốc T2 số tiền 3.329.941 đồng.
      • Trả lại cho anh Nguyễn Công B số tiền 4.513.242 đồng.
      • Trả lại cho anh Nguyễn Hoàng S số tiền 1.945.205 đồng.
      • Trả lại cho anh Huỳnh Phi H1 số tiền 3.680.757 đồng.
      • Trả lại cho chị Hoàng Thị Q số tiền 6.169.863 đồng.
      • Trả lại cho anh Phạm Đình D2 số tiền 4.236.256 đồng.
      • Trả lại cho chị Võ Thị Tú L số tiền 7.065.688 đồng.
    • - Đối với số tiền vay gốc mà người vay đã trả cho bị cáo Nguyễn Văn Đ: Buộc truy thu để sung ngân sách nhà nước từ bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 190.714.286 đồng là tiền gốc mà bị cáo cho 12 người vay đã được các người vay trả lại và số tiền 2.368.767 đồng là tiền lãi theo quy định (lãi suất 20%) nộp sung ngân sách Nhà nước mà bị cáo đã hưởng lợi từ hoạt động cho vay lãi nặng.
    • - Đối với số tiền vay gốc mà người vay chưa trả cho bị cáo Nguyễn Văn Đ: Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp số tiền 98.485.714 đồng còn nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Nguyễn Văn Đ để nộp sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:
      • Anh Phạm Đình T1 nộp lại số tiền 9.447.619 đồng.
      • Anh Nguyễn Hữu C2 nộp lại số tiền 2.857.143 đồng.
      • Bà Phạm Thị Ngọc N2 nộp lại số tiền 15.200.000 đồng.
      • Chị Nguyễn Thị Mỹ D nộp lại số tiền 7.200.000 đồng.
      • Anh Liên Quốc D1 nộp lại số tiền 14.400.000 đồng.
      • Anh Phan Quốc T2 nộp lại số tiền 11.428.571 đồng.
      • Anh Nguyễn Công B nộp lại số tiền 6.666.667 đồng.
      • Anh Nguyễn Hoàng S nộp lại số tiền 16.000.000 đồng.
      • Anh Huỳnh Phi H1 nộp lại số tiền 3.809.524 đồng.
      • Anh Phạm Đình D2 nộp lại số tiền 2.666.667 đồng.
      • Chị Võ Thị Tú L nộp lại số tiền 8.809.524 đồng.
    • - Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án các tài liệu, chứng cứ sau: 01 (Một) Giấy mượn tiền Võ Thị Tú L (bản chính); 01 (Một) Giấy vay tiền Nguyễn Thị Mỹ D (bản chính); 01 (Một) Giấy mượn tiền Phạm Thị Ngọc N2 (bản chính); 01 (Một) Giấy mượn tiền Phạm Đình D2 (bản chính); 01 (Một) Giấy mượn tiền của Nguyễn Công B (bản chính); 01 (Một) Giấy mượn tiền Huỳnh Phi H1 (bản chính); 01 (Một) Giấy mượn tiền Hoàng Thị Q (bản chính); 01 (Một) Giấy mượn tiền Phan Quốc T2 (bản chính).
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TANDTC;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Công an TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Chi cục THADS TP. Buôn Ma Thuột;
  • - THA phạt tù (để thi hành);
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 331/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 331/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ phạm tội Cho vay lãi nặng trong Giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger