|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 331/2024/HS-ST Ngày: 28-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Phước Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thu Hà và ông Nguyễn Đình Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nguyên- Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 303/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 393/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Đàm Thị N. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 04 tháng 4 năm 1982; Nơi sinh: thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Số C, đường V, khối H, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: Đàm Đình Q, đã chết. Họ và tên mẹ: Trịnh Thị B, sinh năm 1954. Anh, chị, em ruột có 03 người, N là người con thứ hai trong gia đình. Chồng: Trần Văn H, sinh năm 1970. Con: Trần Huy H1, sinh ngày 24/3/2022. Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Bản án số 513/2016/HSST ngày 08/12/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 24 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", chấp hành xong Bản án ngày 08/4/2018; Bản án số 292/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 27 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", bị cáo chưa chấp hành; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2024 đến ngày 07/8/2024, hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 22/7/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá, Đàm Thị N đã dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu xám, gắn sim số 0349.000.472 của mình nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) có tài khoản là “Lặng” nhờ T mua hộ 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tiền ma túy đá để về sử dụng. T đồng ý, nói N chuyển khoản tiền trước, khi nào nhận được tiền T sẽ giao ma tuý. Sau đó, N đi đến cửa hàng B1 ở đường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An nhờ chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) vào tài khoản ngân hàng mà T yêu cầu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T gọi điện qua ứng dụng Zalo cho N, nói N đi đến khu vực đầu đường V giao nhau với đường T ở thành phố V lấy gói ma tuý đá được cất giấu trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng để dưới chân cột biển tên đường V. N đi đến địa chỉ nêu trên, nhìn thấy bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Ngà mở bao thuốc lá đó ra kiểm tra thấy bên trong có 01 (một) bao polytylen màu trắng chứa ma tuý đá, N cầm gói ma tuý đó trong bàn tay trái rồi đi về để sử dụng. Vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 22/7/2024, khi N đang đi bộ trên đường V thuộc khối H, phường Đ, thành phố V thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố V kiểm tra hành chính. Do hoảng sợ nên N đã thả 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng từ trong bàn tay trái xuống mặt đường nơi N đang đứng thì bị tổ công tác phát hiện, yêu cầu nhặt lên giao nộp. Tổ công tác thu giữ: 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 (một) bao polytylen màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu xám, số Imei: 355730075260730. Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 22/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V và Kết luận giám định số 777/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 29/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đàm Thị N gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đàm Thị N có khối lượng là 4,826 g (bốn phẩy tám trăm hai mươi sáu gam).”.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 4,826 gam ma túy loại Methamphetamine, đã lấy 1,00 gam gửi đi giám định, còn lại 3,826 gam; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu xám, số Imei: 355730075260730. Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.
Bản Cáo trạng số 316/CT-VKS- TPV ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Đàm Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đàm Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 56; Xử phạt bị cáo Đàm Thị N từ 42 tháng tù đến 45 tháng tù; tổng hợp hình phạt với 27 tháng tù tại Bản án số 292/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Về vật chứng, căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu xám, số Imei: 355730075260730.Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đàm Thị N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố V đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đàm Thị N khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 22/7/2024, tại đường V thuộc khối H, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Đàm Thị N đang có hành vi tàng trữ trái phép 4,826 gam ma túy loại Methamphetamine trong người để sử dụng thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố V kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang. Hành vi cất giữ ma túy với mục đích để sử dụng của Đàm Thị N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[2.2]. Đánh giá tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ sức khỏe và nhận thức, có nhân thân đã từng bị xử phạt hình sự, thấy được tác hại do ma túy mang lại cho con người và xã hội, nhưng bị cáo không phòng, tránh mà lại tiếp tục sa vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo HĐXX thấy: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo N có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Khi bị cáo phạm tội, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đang có thai; Bố đẻ và bố chồng của bị cáo là người có công với cách mạng. Vậy nên, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại tại điểm s,n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật để cải tạo tốt, sớm hòa nhập với cộng đồng xã hội, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo N tại phiên tòa cho thấy nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập và công việc không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4]. Trong vụ án này, theo lời khai của Đàm Thị N về người đàn ông tên T đã bán ma túy cho N không rõ lai lịch, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V không có cơ sở để kết luận.
[2.5]. Về vật chứng trong vụ án: Ma túy (Methamphetamine) thu giữ của bị cáo Đàm Thị N là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy; chiếc điện thoại di động là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, hóa giá sung quỹ nhà nước.
[2.6]. Bị cáo Đàm Thị N phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đàm Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Đàm Thị N 3(Ba) năm, 6(S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tổng hợp với 27 (Hai mươi bảy) tháng tù tại Bản án số 292/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh; Buộc bị cáo Đàm Thị N phải chấp hành chung cả Hai bản án là 5(Năm) năm, 9 (Chín) tháng tù; T1 cho bị cáo số ngày đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2024 đến ngày 19/5/2024 và từ ngày 22/7/2024 đến ngày 07/8/2024; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án,
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo Đàm Văn N1; tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S đã qua sử dụng; Vật chứng có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK 2025/02ngày 03/10/2024.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đàm Thị N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỒ PHƯỚC LINH |
Bản án số 331/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 331/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đàm Thị Ngà
