|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 331/2024/HN-ST
Ngày: 06-09-2024
V/v “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Tùng;
- Bà Huỳnh Thị Kim Trúc Ly.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ lách tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 234/2024/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 07 năm 2024, về việc: “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 08 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Lê Đình C, sinh năm 1968; Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Có mặt
- Bị đơn: Bà Lê Thị Hồng K, sinh năm 1962; Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Bà Lê Thị Hồng K có yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến và phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Lê Đình C trình bày:
Ông và bà Lê Thị Hồng K tự nguyện sống chung với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tạp quán tại địa phương vào năm 1990 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau lễ cưới, bà K về chung sống với ông tại ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống, thời gian đầu cuộc sống giữa hai người cũng hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, cuộc sống không hòa hợp. Hiện ông và bà K đã sống ly thân từ tháng 6/2019 đến nay. Nay ông xác định không còn tình cảm, không thể sống chung và không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án không công nhận ông và bà K là vợ chồng.
Về con chung: Quá trình chung sống, giữa ông và bà K có 01 con chung tên Lê Thị Kim C1, sinh ngày 10/01/1991 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Tại biên bản lấy lời khai và biên bản làm việc ngày 29/07/2024, bị đơn bà Lê Thị Hồng K trình bày:
Bà và ông Lê Đình C tự nguyện sống chung từ năm 1991, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tạp quán tại địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống, giữa bà và ông K cũng không có mâu thuẫn gì lớn, chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, nói chuyện thường hay tranh cãi. Thời gian gần đây do bà bị bệnh nhưng ông C không quan tâm chăm sóc mà còn làm đơn yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng là không hợp đạo lý nên bà không đồng ý.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông C có 01 con chung tên Lê Thị Kim C1, sinh ngày 10/01/1991 đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Bà sẽ tự giải quyết trong phạm vi gia đình.
Nợ chung: Không có.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng của ông Lê Đình C đối với bà Lê Thị Hồng K. Cụ thể: Không công nhận ông Lê Đình C với bà Lê Thị Hồng K là vợ chồng.
+ Về con chung: có 01 con chung tên Lê Thị Kim C1, sinh ngày 10/01/1991 đã trưởng thành nên không xét đến.
+ Về tài sản chung: Các bên tự tỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
+ Về nợ chung: Các bên khai không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Lê Thị Hồng K có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà K.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 53 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Đình C và bà Lê Thị Hồng K tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1990 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Mặc dù từ đó đến nay ông, bà có đủ điều kiện đăng ký kết hôn, nhưng đến nay ông, bà vẫn không đăng ký kết hôn nên căn cứ theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì ông C và bà K không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Theo ông C, quá trình chung sống với bà K hai người thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, cuộc sống không hòa hợp. Hiện ông và bà K đã sống ly thân từ tháng 6/2019 cho đến nay. Nay ông C xác định tình cảm không còn, không thể sống chung với bà K nên yêu cầu Tòa án không công nhận ông và bà K là vợ chồng.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông C và bà K thực tế là có xảy ra và giữa hai người có thời gian sống ly thân từ tháng 6/2019 đến nay, với khoảng thời gian trên cũng đủ cho ông, bà suy nghĩ lại tình cảm thế nhưng cả hai cũng không tìm cho mình một biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm. Hiện cả hai đều không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, quá trình giải quyết vụ án ông K yêu cầu không tiến hành hòa giải giữa hai người vì không còn tiến nói chung. Điều đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn giữa ông C và bà K là đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu không công nhận ông C và bà K là vợ chồng là phù hợp theo quy định tại Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Quá trình chung sống, ông C và bà K có 01 con chung tên Lê Thị Kim C1, sinh ngày 10/01/1991 đã trưởng thành nên không xét đến.
[5] Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
[6] Về nợ chung: Ông C và bà K khai không có nên không xem xét.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông C phải chịu án phí về việc yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 147, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng của ông Lê Đình C đối với bà Lê Thị Hồng K. Cụ thể tuyên:
Không công nhận ông Lê Đình C với bà Lê Thị Hồng K là vợ chồng.
- - Về con chung: có 01 con chung tên Lê Thị Kim C1, sinh ngày 10/01/1991 đã trưởng thành nên không xét đến.
- - Về tài sản chung: Ông C, bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- - Về nợ chung: Ông C, bà K khai không có nên không xem xét.
- Về án phí: Ông Lê Đình C phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000987 ngày 28/06/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Lê Thị Hồng K1 được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Chí Hậu |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 331/2024/HN-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 331/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Cuộc yêu cầu không công nhận vợ chồng với bà Kết
