|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 331/2024/HS-ST Ngày: 18-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thưởng
Bà Nguyễn Thị Minh Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 326/2024/HSST ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 349/2024/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 122/QĐST-HS ngày 09/9/2024 đối với các bị cáo:
Nguyễn Đình V
, sinh ngày: 15/03/1990; Nơi cư trú: Phố E, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình H, sinh năm 1961 và bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1961; Có vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1993 và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ ngày 13/5/2024 đến ngày 22/5/2024 chuyển tạm giam. Ngày 11/6/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Trương Hoàng G
, sinh ngày: 16/01/1993; Nơi cư trú: Phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Viết T, sinh năm 1961 và bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1965; có vợ: Bùi Thị P, sinh năm 1993 và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 07/02/2024, bị Công an phường Q, thành phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất an ninh trật tự tại khu dân cư. Nhân thân: Ngày 31/01/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "cố ý gây thương tích". Bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024 đến ngày 18/5/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Sỹ X, sinh năm: 1985; địa chỉ: Phố T, phường Q, TP tỉnh Thanh Hóa.
Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1993; địa chỉ: Tiểu khu Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Lê Khắc T1, sinh năm: 1989; địa chỉ: S V, phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóa.
Anh Lê Xuân D, sinh năm: 1994; địa chỉ: SN C T, phường N, TP., tỉnh Thanh Hóa.
Anh Lê Văn P1, sinh năm: 1986; địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1993; địa chỉ: Phố Đ, phường Q, TP, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Nguyễn Cảnh H3, sinh năm: 1989; địa chỉ: Phố D, phường Q, TP, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Phạm Văn Đ, sinh năm: 1990; địa chỉ: Phố T, phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóa.
Chị Đinh Thị G1, sinh năm: 1986; địa chỉ: Phố Đ, phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóa.
Chị Ngô Thị D1, sinh năm: 1988; địa chỉ: S2, phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóa.
Anh Chu Đình C1, sinh năm: 1991; địa chỉ: Phố Đ, phường Q, TP, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Nguyễn Trọng C2, sinh năm: 1992; địa chỉ: Phố E, phường Q, TP, tỉnh Thanh Hóa.
Tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 08/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T nhận được tố giác của quần chúng nhân dân về việc Nguyễn Đình V và Trương Hoàng G có hành vi "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự". Ngày 09/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành triệu tập làm việc đối với Trương Hoàng G, ngày 13/5/2014 triệu tập làm việc với Nguyễn Đình V.
Tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố T Trương Hoàng G và Nguyễn Đình V đầu thú và khai nhận:
Do có quen biết từ trước nên vào cuối tháng 01 năm 2024, Nguyễn Đình V và Trương Hoàng G bàn bạc thống nhất tìm khách có nhu cầu vay tiền để cho khách vay tiền với hình thức vay thế chấp và tín chấp (vay lãi ngày, vay lãi tháng) với mức lãi suất 3.333đ/1 triệu/1 ngày (121,6%/1 năm) đến 5.000đ/1 triệu/1 ngày (182,5%/1 năm) vượt quá gấp 6,2 đến 9,1 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự (20%/1 năm); thu trước tiền lãi 5.000.000đ và yêu cầu thanh toán theo thời hạn lãi tháng là 30 ngày. G và Vinh thống nhất với nhau là G là người tìm khách vay, làm thủ tục giấy tờ với khách vay còn V là người cung cấp tiền cho G, về tỷ lệ ăn chia, V và G thỏa thuận chia đôi tền lãi thu được của khách vay.
Ngày 06/02/2024, V đưa tiền số tiền 50.000.000₫ để Trương Hoàng G cho anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993, trú tại tiểu khu Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vay dưới hình thức thế chấp, với lãi suất 5.000.000đ/1 tháng/50.000.000đ, tương ứng 3.333₫/1.000.000đ/1 ngày (121,6%/năm), thu trước tiền lãi 5.000.000₫ và yêu cầu anh H1 thanh toán theo thời hạn lãi tháng là 30 ngày. Khi vay anh H1 để lại 01 đăng ký xe ô tô BKS: 29A-917.83, thống nhất khi nào trả hết tiền lãi và gốc thì gói vay kết thúc.
Từ ngày 06/02/2024 đến ngày 06/03/2024, anh H1 đã trả cho G và V 01 tháng tiền lãi 5.000.000đ, còn nợ lại G và V tiền lãi từ ngày 07/03/2024 đến ngày 09/05/2024 (ngày bị ngăn chặn) và 50.000.000đ tiền gốc; số tiền nhằm thu lời bất chính với gói vay trên là 12.952.052đ; số tiền lãi đã thu 5.000.000đ; số tiền lãi thu theo quy định (20%/1 năm) là 821.917đ; số tiền đã thu lời bất chính với gói vay là 4.178.083đ; Trong đó V và G mỗi bị cáo thu lời bất chính số tiền 2.089.041₫.
Ngoài việc cho anh H1 vay tiền, cá nhân Trương Hoàng G và Nguyễn Đình V còn sử dụng tiền riêng của mình để cho một số khách vay tiền, cụ thể như sau:
I. Đối với bị cáo Trương Hoàng G:
Từ ngày 28/10/2022 đến ngày 09/05/2024, G cho 05 người vay tiền với mức lãi suất gấp trên 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự (20%/1 năm), nhằm thu lợi bất chính số tiền 50.156.164đ, cụ thể:
Cho anh Nguyễn Sỹ X, sinh năm 1985, trú tại phố T, phường Q, thành phố T vay:
Ngày 28 tháng 10 năm 2022, G cho anh X vay số tiền 10.000.000₫ dưới hình thức vay tín chấp với lãi suất 1 triệu/10 triệu/1 tháng, tương ứng 3.333 đ/1 triệu/1 ngày (121,6%/1 năm), khi cho vay G yêu cầu anh X viết 01 giấy vay tiền, cả 2 thống nhất với hình thức vay theo lãi tháng (30 ngày), khi nào trả hết tiền gốc, tiền lãi thì gói vay kết thúc. Từ ngày 28/10/2022 đến ngày 28/12/2022 anh X trả cho G 02 tháng tiền lãi với số tiền 2.000.000đ. Đến tháng 10 năm 2023, anh X và G thống nhất dừng việc trả lãi mà chỉ trả tiền gốc, đến tháng 11 và tháng 12 năm 2023, anh X đã trả cho G 4.000.000đ tiền gốc. Hiện tại anh X còn nợ G 09 tháng tiền lãi là 9.000.000₫ và 6.000.000đ tiền gốc. Số tiền gốc G sử dụng cho anh X vay là 10.000.000đ, số tiền nhằm thu lợi bất chính với gói vay trên là: 9.191.781đ; tiền lãi đã thu là 2.000.000đ; số tiền đã thu lợi bất chính là 1.671.233đ; số tiền lãi thu theo quy định là 328.767₫.
Cho anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993, trú tại tiểu khu Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vay:
Ngày 06/12/2023, G cho anh H1 vay số tiền 20.000.000₫ (trong đó có 2.000.000₫ G lấy từ tiền lãi từ gói vay của Nguyễn Sỹ X) dưới hình thức tín chấp, với lãi suất 2 triệu/20 triệu/1tháng, tương ứng 3.333đ/1 triệu/ ngày (121,6%/1 năm) G thu trước 2.000.000đ và thống nhất vay theo lãi tháng (30 ngày). Đến ngày 06/02/2024, anh H1 vay thêm số tiền 30.000.000₫ G đã trao đổi với V cho H1 vay 50.000.000₫, G đưa Hóa 25.000.000đ, kết thúc gói vay 20.000.000đ. Từ ngày 06/12/2023 đến ngày 06/02/2024 anh H1 đã trả cho G 4.000.000đ. Số tiền gốc G sử dụng cho anh H1 vay là 16.000.000đ; số tiền lãi đã thu 4.000.000đ; số tiền đã thu lợi bất chính với gói vay trên là 3.342.466đ; số tiền lãi thu theo quy định là 657.534₫.
Cho anh A Lê Khắc T1, sinh năm 1989, trú tại S V, phường Q, thành phố T vay 07 gói vay:
Gói 1: Ngày 14/03/2024, G cho anh T1 vay số tiền 5.000.000 đ (số tiền này G lấy từ tiền gốc, tiền lãi trong gói vay của Nguyễn Văn H1) dưới hình thức vay thế chấp, G thu trước 500.000đ và yêu cầu anh T1 thanh toán tiền vay trong thời hạn 10 ngày, với lãi suất 10.0000đ/1 triệu/1 ngày (365%/1 năm). Đến ngày 15/03/2024 kết thúc gói vay, anh T1 thanh toán hết tiền gốc cho G. Số tiền lãi đã thu theo quy định là: 27.397đ, số tiền đã thu lợi bất chính: 472.603₫.
Gói 2: Ngày 16/03/2024, G cho anh T1 vay số tiền 6.000.000₫ (số tiền này G lấy từ tiền gốc, tiền lãi trong gói vay của Nguyễn Văn H1) dưới hình thức vay thế chấp, G thu trước 600.000đ tiền lãi và yêu cầu T1 thanh toán tiền vay trong thời hạn 10 ngày, với lãi suất 10.0000đ/1 triệu/1 ngày (365%/1 năm). Đến ngày 20/03/2024 kết thúc gói vay, anh T1 thanh toán hết tiền gốc 6.000.000₫ cho G. Số tiền lãi đã thu theo quy định là: 32.876đ, số tiền đã thu lợi bất chính là: 567.124₫.
Gói 3: Ngày 30/03/2024, G cho anh T1 vay số tiền 20.000.000₫ (số tiền này G lấy từ tiền gốc, tiền lãi trong gói vay của Nguyễn Văn H1) dưới hình thức vay thế chấp, G thu trước 2.000.000đ tiền lãi và yêu cầu anh T1 thanh toán tiền vay trong thời hạn 10 ngày, với lãi suất 10.0000đ/1 triệu/1 ngày (365%/1 năm). Đến ngày 04/04/2024 kết thúc gói vay, anh T1 thanh toán hết tiền gốc 20.000.000đ cho G. Số tiền lãi đã thu theo quy định là: 109.589đ, số tiền đã thu lợi bất chính là: 1.890.411₫.
Gói 4: Ngày 07/04/2024, G cho anh T1 vay số tiền 25.000.000đ (trong đó có 20.000.000₫ G lấy từ tiền gốc, tiền lãi gói vay của Nguyễn Văn H1 và từ gói vay thứ ba) dưới hình thức vay thế chấp, G thu trước 2.500.000đ tiền lãi và yêu cầu T1 thanh toán tiền vay trong thời hạn 10 ngày, với lãi suất 10.0000đ/1 triệu/1 ngày (365%/1 năm). Đến ngày 11/04/2024 kết thúc gói vay, anh T1 thanh toán hết tiền gốc 25.000.000đ cho G. Số tiền lãi đã thu theo quy định là: 136.986đ, số tiền đã thu lợi bất chính là: 2.363.014₫.
Gói 5: Ngày 12/04/2024, G cho anh T1 vay số tiền 30.000.000₫ (trong đó có 25.000.000₫ G lấy từ tiền gốc và tiền lãi từ gói vay thứ 4) dưới hình thức vay thế chấp, G thu trước 3.000.000đ tiền lãi và yêu cầu T1 thanh toán tiền vay trong thời hạn 10 ngày, với lãi suất 10.0000đ/1 triệu/1 ngày (365%/1 năm). Đến ngày 19/04/2024 kết thúc gói vay, anh T1 thanh toán hết tiền gốc 30.000.000đ cho G. Số tiền lãi đã thu theo quy định là 164.383đ, số tiền đã thu lợi bất chính là 2.835.617₫.
Gói 6: Ngày 20/04/2024, G cho anh T1 vay số tiền 30.000.000₫ (số tiền này G lấy từ tiền gốc và tiền lãi từ gói vay thứ 5) dưới hình thức vay thế chấp, G thu trước 3.000.000đ tiền lãi và yêu cầu T1 thanh toán tiền vay trong thời hạn 10 ngày, với lãi suất 10.0000đ/1 triệu/1 ngày (365%/1 năm). Cùng ngày 20/04/2024 kết thúc gói vay, anh T1 thanh toán hết tiền gốc 30.000.000₫ cho G. Số tiền lãi đã thu theo quy định là: 164.383đ, số tiền đã thu lợi bất chính là: 2.835.617₫.
Gói 7: Ngày 05/05/2024, G cho anh T1 vay số tiền 30.000.000₫ (số tiền này G lấy từ tiền gốc và tiền lãi từ gói vay của Lê Văn P1) dưới hình thức vay thế chấp, G thu trước 3.000.000đ tiền lãi và yêu cầu T1 thanh toán tiền vay trong thời hạn 10 ngày, với lãi suất 10.0000đ/1 triệu/1 ngày (365%/1 năm). Cùng ngày 05/5/2024, kết thúc gói vay, anh T1 trả cho G số tiền 29.000.000đ. Số tiền lãi đã thu theo là: 164.383đ, số tiền nhằm thu lợi bất chính là 2.835.617đ; số tiền đã thu lời bất chính là: 1.835.617₫.
Tổng số tiền gốc G sử dụng để cho anh T1 vay là 4.500.000, tổng số tiền nhằm thu lợi bất chính là 13.799.920đ, tổng số tiền lãi đã thu lợi bất chính từ việc cho anh T1 vay là 12.799.920đ, số tiền lãi thu theo quy định là 800.080đ.
Cho anh Lê Xuân D, sinh năm 1994, trú tại SN 38 T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vay:
Ngày 23/04/2024, G cho anh D vay số tiền 75.000.000₫ (trong đó có 30.000.000₫ G lấy từ tiền gốc và tiền lãi từ gói vay thứ 6 của Nguyễn Khắc T2) dưới hình thức vay thế chấp, G thu trước 6.500.000đ tiền lãi và yêu cầu anh D thanh toán tiền vay trong thời hạn 10 ngày, với lãi suất 10.0000đ/1 triệu/1 ngày (365%/1 năm). Số tiền gốc G sử dụng cho anh D vay là 38.500.000đ, số tiền lãi G đã thu là 6.500.000đ, số tiền lãi thu theo quy định là 410.958đ, số tiền đã thu lợi bất chính là 6.089.042₫.
Cho anh Lê Văn P1, sinh năm 1986, trú tại thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa vay:
Ngày 01/5/2024, G cho anh P1 vay số tiền 40.000.000₫ (số tiền này G lấy từ tiền gốc và tiền lãi từ gói vay của Lê Xuân D) dưới hình thức vay thế chấp, G yêu cầu anh P1 thanh toán tiền vay và tiền lãi trong thời hạn 10 ngày, với lãi suất 12.500đ/1 triệu/1 ngày (456,2%/1 năm). Đến ngày 02/5/2024 kết thúc gói vay, anh P1 thanh toán hết tiền gốc và tiền lãi 45.000.000đ cho G. Số tiền nhằm thu lợi bất chính là 4.780.813đ, số tiền lãi thu theo quy định là 219.187đ. Số tiền lãi G đã thu là 5.000.000 đồng.
Tổng cộng G sử dụng 69.000.000đ tiền gốc để cho anh Lê Khắc T1, Lê Xuân D, Lê Văn P1, Nguyễn Sỹ X, Nguyễn Văn H1 vay với lãi suất từ 3.333đ/1 triệu/1 ngày (121,6%/1 năm) đến 10.000đ/1triệu/1ngày (365%/1 năm) đã vượt quá gấp 6,2 đến 22,8 lần mức lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự quy định (trong đó số tiền gốc đã thu được là 63.000.000đ, số tiền gốc chưa thu được là 6.000.000₫); tổng số tiền lãi nhằm thu là: 56.600.000₫ (trong đó số tiền lãi đã thu được là 37.100.000₫); số tiền lãi thu theo quy định (20%/1 năm) là: 4.717.807đ; số tiền lãi nhằm thu lợi bất chính là 50.156.164₫, (trong đó số tiền thu lợi bất chính đã thu được là 29.293.150₫).
Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 22/12/2023 đến ngày 09/5/2024,G còn sử dụng 181.000.000đ để cho 03 người khách là anh Nguyễn T3, Phạm Văn C3, Nguyễn Thanh T4 vay với lãi suất từ 1.500đ/1 triệu/1 ngày (54,7%/1 năm) đến 2.000đ/1triệu/1 ngày (73%/1 năm) đã vượt quá gấp 2,7 đến 3,65 lần mức lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự quy định (trong đó số tiền gốc đã thu được là 25.000.000đ, số tiền gốc chưa thu được là 156.000.000₫); tổng số tiền lãi nhằm thu là: 22.919.000đ; số tiền lãi đã thu được là 13.600.000đ; số tiền lãi thu theo quy định (20%/1 năm) là: 8.423.013đ; tổng số tiền lãi nhằm thu lợi bất chính là 14.495.986đ; số tiền thu lợi bất chính đã thu được là 5.176.986₫.
II. Đối với bị cáo Nguyễn Đình V:
Từ ngày 18/06/2023 đến ngày 09/05/2024, V cho 07 người vay tiền với mức lãi suất gấp trên 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự (20%/1 năm), nhằm thu lợi bất chính số tiền 124.499.997đ, cụ thể:
Cho chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1993, trú tại phố Đ, phường Q, thành phố T vay 03 gói vay:
Gói 1: Ngày 18/6/2023, cho chị H2 vay số tiền 30.000.000₫ dưới hình thức tín chấp, với lãi suất 3.600.000đ/1 tháng tương ứng 4.000đ/1 triệu/1 ngày(146%/1 năm). Khi cho vay V thu trước 3.600.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày). Từ ngày 18/06/2023 đến ngày 18/10/2023 chị H2 đã trả cho V 04 tháng tiền lãi với số tiền 14.400.000đ và tiền gốc. Số tiền lãi đã thu là 14.400.000đ, Số tiền lãi đã thu theo quy định là 1.972.602đ, số tiền đã thu lợi bất chính là: 12.427.398₫.
Gói 2: Ngày 05/12/2023, V cho chị H2 vay số tiền 20.000.000₫ (số tiền này V lấy từ tiền gốc của gói vay thứ nhất) dưới hình thức tín chấp với lãi suất 2.400.000₫/ 20.000.000đ/1 tháng, tương ứng 4.000đ/1 triệu/1 ngày (146%/1 năm). Khi cho vay V thu trước 2.400.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày). Từ ngày 05/12/2023 đến ngày 05/01/2024 chị H2 đã trả cho V 01 tháng tiền lãi với số tiền 2.400.000₫ và tiền gốc. Số tiền lãi đã thu theo quy định là: 328.767đ, số tiền đã thu lợi bất chính là: 2.071.233₫.
Gói 3: Ngày 09/01/2024, V cho chị H2 vay số tiền 20.000.000₫ (số tiền này V lấy từ tiền gốc của gói vay thứ 2) với lãi suất 2.400.000đ/20.000.000₫ tháng, tương ứng 4.000đ/1 triệu/ ngày (146%/1 năm). Khi cho vay V thu trước 2.400.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày). Từ ngày 09/01/2024 đến ngày 09/02/2024 chị H2 đã trả cho V 01 tháng tiền lãi với số tiền 2.400.000đ. Hiện tại chị H2 nợ V 03 tháng tiền lãi với số tiền 7.200.000₫ và 20.000.000₫ tiền gốc. Số tiền lãi đã thu 2.400.000đ, số tiền lãi đã thu theo quy định là 328.767đ, số tiền đã thu lợi bất chính là 2.071.233đ, số tiền lãi nhằm thu là 9.600.000đ, số tiền nhằm thu lợi bất chính là 8.284.932₫.
Tổng số tiền V sử dụng cho chị H2 vay là 26.400.000đ; số tiền nhằm thu lợi bất chính là 22.783.563đ; số tiền lãi đã thu là 19.200.000; số tiền đã thu lợi bất chính là 16.569.864đ; số tiền lãi đã thu theo quy định là 2.630.136₫.
Cho anh Nguyễn Cảnh H3, sinh năm 1989, nhà ở phố D, phường Q, thành phố T vay 04 gói vay, cụ thể:
Gói 1: Ngày 06/7/2023, V cho anh H3 vay số tiền 20.000.000₫ dưới hình thức tín chấp với lãi suất 2 triệu/20.000.000đ/1 tháng, tương ứng 3.333đ/1 triệu/ ngày (121,6%/1 năm). Khi cho vay V thu trước 2.000.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày). Cùng ngày 06/7/2023 kết thúc gói vay, đã trả hết tiền lãi, và tiền gốc cho V. Số tiền lãi đã thu là 2.000.000đ, số tiền lãi theo quy định là 328.767đ, số tiền đã thu lợi bất chính là1.671.233₫.
Gói 2: Ngày 09/7/2023, V cho anh H3 vay số tiền 20.000.000₫ (số tiền này V lấy từ tiền gốc của gói vay thứ nhất) với lãi suất 2 triệu/20 triệu/1 tháng, tương ứng 3.333đ/1 triệu/1 ngày (121,6%/1 năm). Khi cho vay V thu trước 2.000.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày). Đến ngày 01/8/2023 kết thúc gói vay, anh H3 đã trả hết tiền lãi và tiền gốc cho V. Số tiền lãi đã thu là 2.000.000đ, số tiền lãi đã thu theo quy định là: 328.767đ; số tiền đã thu lợi bất chính là: 1.671.233₫.
Gói 3: Ngày 03/8/2023, V cho anh H3 vay số tiền 300.000.000₫ (Trong đó có 33.200.000₫ lấy từ tiền lãi của Nguyễn Thị H2 và tiền gốc, tiền lãi của gói vay thứ nhất, thứ 2 của H3) với lãi suất 30 triệu/300 triệu/1 tháng, tương ứng 3.333đ/1 triệu/ ngày (121,6%/1 năm), khi cho vay V thu trước 30.000.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày). Cùng ngày 03/08/2023 kết thúc gói vay, anh H3 đã trả hết tiền lãi và tiền gốc cho V. Số tiền lãi đã thu là 30.000.000đ; Số tiền lãi đã thu theo quy định là 4.932.000đ, số tiền đã thu lợi bất chính là 25.068.000₫.
Gói 4: Ngày 03/8/2023, V cho anh H3 vay tiếp số tiền 50.000.000₫ (số tiền này V lấy từ tiền gốc của gói vay thứ 3), với lãi suất 5 triệu/50 triệu/1 tháng, tương ứng 3.333đ/1 triệu/ ngày (121,6%/1 năm). Khi cho vay V thu trước 5.000.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày). Đến ngày 04/8/2023 kết thúc gói vay, anh H3 đã trả hết tiền lãi và tiền gốc cho V. Số tiền lãi đã thu là 5.000.000đ, số tiền lãi đã thu theo quy định là 821.917đ, số tiền đã thu lợi bất chính là: 4.178.083₫.
Tổng số tiền V sử dụng cho anh H3 vay là 236.800.000đ, số tiền lãi đã thu là 39.000.000, số tiền đã thu lời bất chính là 32.588.549đ, số tiền lãi thu theo quy định 20%/ 1 năm là 6.411.451₫.
Cho anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1990, trú tại phố T, phường Q, thành phố T vay:
Ngày 05/9/2023, V cho anh Đ vay số tiền 20.000.000₫ (số tiền này V lấy từ tiền gốc của gói vay thứ 4 của Nguyễn Cảnh H3) dưới hình thức tín chấp, với lãi suất 2 triệu/1 tháng/20 triệu, tương ứng với 3.333đ/1 triệu/ ngày (121,6%/1 năm). Khi cho vay V thu trước 2.000.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày). Từ ngày 05/09/2023 đến ngày 05/02/2024 anh Đ đã trả cho V 06 tháng tiền lãi với số tiền 12.000.000₫ và tiền gốc. Số tiền gốc V sử dụng cho anh Đ vay là 18.000.000đ, số tiền lãi đã thu theo quy định là: 1.972.602đ, số tiền đã thu lợi bất chính là: 10.027.398₫.
Cho chị Đinh Thị G1, sinh năm 1986, trú tại phố Đ, phường Q, thành phố T, Thanh Hóa vay:
Ngày 08/10/2023, V cho chị G1 vay số tiền 10.000.000₫ (số tiền này Vinh lấy từ tiền gốc và lãi của gói vay thứ 3 của Nguyễn Cảnh H3) dưới hình thức tín chấp, với lãi suất 1.200.000₫/10.000.000đ/1 tháng, tương ứng 4.000đ/1 triệu/1 ngày (146%/1 năm). Khi cho vay V thu trước 1.200.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày). Từ ngày 08/10/2023 đến ngày 08/05/2024 chị G1 đã trả cho V 07 tháng tiền lãi với số tiền 8.400.000₫ và 10.000.000đ tiền gốc. Số tiền gốc G1 sử dụng cho vay là 8.800.000đ, số tiền lãi đã thu là 8.400.000đ, số tiền lãi đã thu theo quy định là 1.150.800đ; số tiền đã thu lợi bất chính là: 7.249.316₫.
Cho chị Ngô Thị D1, sinh năm 1988, trú tại S B, phường Q, thành phố T vay:
Ngày 26/11/2023, V cho chị D1 vay số tiền 40.000.000₫ (số tiền này V lấy từ tiền gốc và lãi của gói vay thứ 3 của Nguyễn Cảnh H3) dưới hình thức tín chấp, với lãi suất 4.000.000đ/40 triệu/1 tháng, tương ứng với 3.333 đ/1 triệu/ ngày (121,6%/1 năm), khi cho vay V thu trước 4.000.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày). Từ ngày 26/11/2023 đến ngày 26/01/2024 chị D1 đã trả cho V 02 tháng tiền lãi với số tiền 8.000.000₫ và tiền gốc, kết thúc gói vay. Số tiền gốc V sử dụng cho vay là 36.000.000đ, số tiền lãi đã thu theo quy định là: 1.315.068đ, số tiền đã thu lợi bất chính là 6.684.932₫.
Cho anh Chu Đình C1, sinh năm 1991, trú tại phố Đ, phường Q, thành phố T vay 02 gói vay, cụ thể:
Gói 1: Ngày 15/3/2024, V cho anh C1 vay 5.000.000đ (số tiền này Vinh lấy từ tiền gốc gói vay thứ 3 của Nguyễn Cảnh H3) dưới hình thức tín chấp, với lãi suất 600.000đ/S triệu/1 tháng, tương ứng 4.000đ/1 triệu/ ngày (146%/1 năm). Khi cho vay V thu trước 600.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày). Từ ngày 15/03/2024 đến ngày 09/05/2024 anh C1 đã trả cho V 02 tháng tiền lãi với số tiền 1.200.000đ. Hiện anh C1 còn nợ V 5.000.000đ tiền gốc. Số tiền lãi đã thu là 1.200.000đ, số tiền lãi đã thu theo quy định là 164.383đ, số tiền đã thu lợi bất chính là: 1.035.617₫.
Gói 2: Ngày 28/4/2024, V cho anh C1 vay số tiền 3.000.000₫ (số tiền này V lấy từ tiền gốc gói vay thứ 3 của Nguyễn Cảnh H3) với lãi suất 360.000₫/ 3 triệu/1 tháng, tương ứng 4.000đ/1 triệu/1 ngày (146%/1 năm). Khi cho vay V thu trước 360.000đ, thời hạn vay tính theo lãi tháng (30 ngày. Từ ngày 28/04/2024 đến ngày 09/05/2024 anh C1 đã trả cho V 01 tháng tiền lãi với số tiền 360.000đ. Hiện anh C1 còn nợ V 3.000.000đ tiền gốc. Số tiền lãi đã thu là 360.000đ, số tiền lãi đã thu theo quy định là 49.315đ, số tiền đã thu lợi bất chính là 310.685₫.
Tổng số tiền gốc V sử dụng cho anh C1 vay là 5.840.000đ, tiền lãi đã thu là 1.560.000, số tiền đã thu lợi bất chính là 1.346.302đ, số tiền lãi thu theo quy định 20%/1 năm là 213.698₫.
Cho anh Nguyễn Trọng C2, sinh năm 1992, trú tại phố E, phường Q, thành phố T vay:
Ngày 28/3/2024, V cho anh C2 vay số tiền 200.000.000₫ (số tiền này V lấy từ tiền gốc và tiền lãi của gói vay thứ 3 của Nguyễn Cảnh H3) dưới hình thức vay thế chấp với lãi suất 20.000.000đ trong thời hạn 20 ngày, tương ứng 5.000đ/1 triệu/1 ngày (182,5%/1 năm). Từ ngày 28/3/2024 đến 15/4/2024 anh C2 đã trả cho V 20.000.000đ tiền lãi. Số tiền lãi đã thu theo quy định là 2.191.780đ; số tiền đã thu lợi bất chính là 17.808.000đ. Ngày 16/4/2024, anh C2 không trả được tiền gốc vay 200.000.000₫, anh C2 và V thống nhất vay 200.000.000₫ theo lãi tháng (30 ngày) với lãi suất 20.000.000đ/200 triệu/1 tháng, tương ứng 3.333đ/1 triệu/1 ngày (121,6%/1 năm), khi nào anh C2 trả hết tiền lãi và tiền gốc thì gói vay kết thúc. Hiện tại anh C2 nợ V 200.000.000đ tiền gốc và 16.000.000đ tiền lãi từ ngày 16/4/2024 đến ngày 09/5/2024. Số tiền gốc V sử dụng cho C2 vay là 200.000.000đ, số tiền nhằm thu lợi bất chính với gói vay trên là 31.177.863đ, số tiền lãi đã thu theo quy định là 2.192.000đ, số tiền đã thu lợi bất chính là 17.808.000₫.
Tổng cộng V sử dụng 281.000.000đ tiền gốc để cho anh Nguyễn C4, Chu Đình C1, Nguyễn Trọng C2, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn H1 và chị Đinh Thị G1, Nguyễn Thị H2, Ngô Thị D1 vay với lãi suất từ 3.333đ/1 triệu/1 ngày (121,6%/1 năm) đến 5.000đ/1 triệu/ 1 ngày (182,5%/1 năm) đã vượt quá gấp 6,2 đến 9,1 lần mức lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự quy định với tổng số tiền lãi nhằm thu lợi bất chính là 124.499.997đ, số tiền thu lợi bất chính mà V đã thu được là 90.774.670₫).
Về phần dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm: Nguyễn Văn H1, Nguyễn Cảnh H3, Chu Đình C1, Đinh Thị G1, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Trọng C2, Ngô Thị D1, Phạm Văn Đ, Lê Khắc T1, Lê Xuân D, Lê Văn P1, Nguyễn Sỹ X và Nguyễn Trọng N, Phạm Văn C3, Nguyễn Thanh T4 đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Về vật chứng:
- Đối với chứng minh nhân dân số [...] tên Nguyễn Đình V; 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Đình V và Nguyễn Thị Q, gồm các số: DO 612035; DO 612521; DN 489812. Cơ quan điều tra làm việc với chị Nguyễn Thị Q và Nguyễn Đình V xác định 03 giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và chứng minh nhân dân trên là của bị cáo Nguyễn Đình V, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại cho Nguyễn Đình V.
- Đối với giấy nhận tiền ngày 24/04/2022, người nhận Nguyễn Đình T5, người giao tiền Nguyễn Đình V, có nội dung nhận số tiền 650.000.000đ. Quá trình điều tra xác định giấy nhận tiền trên là của bị cáo Nguyễn Đình V. Cơ quan điều tra làm việc với Nguyễn Đình V và Nguyễn Đình T5, sinh năm 1985, trú tại phố E, phường Q, thành phố T xác định giấy nhận tiền trên là tiền mua bán đất, không liên quan đến việc vay lãi. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T trả lại cho Nguyễn Đình V.
- Đối với số hợp đồng kinh tế có dòng chữ cửa hàng cho thuê xe ô tô tự lái V, địa chỉ: Phố E, phường Q, thành phố T, điện thoại 0969.591.xxx - 0856.053.456, trong đó 15 tờ có ghi nội dung Hợp đồng cho thuê xe ô tô và 83 (tám mươi ba) tờ hợp đồng trắng không có nội dung gì. Cơ quan điều tra đã làm việc với những người có tên trong hợp đồng thuê xe Nguyễn Viết N1, Trịnh Văn S, Chu Đình S1, Nguyễn Viết L, Nguyễn Bá T6 xác định các hợp đồng trên là hợp đồng thuê xe ô tô, không liên quan đến việc vay lãi. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T trả lại cho Nguyễn Đình V.
- Đối với xe YAMAHA Excter màu đỏ đen, gắn BKS 36-R7 - 448.69, số khung RLCE1S9A0BY014354, số máy 159A014353. Cơ quan điều tra làm việc với Nguyễn Đình V và Trần Thị T7, sinh năm 1969, trú tại xóm H, phường Đ, thành phố T xác định chị T7 đã bán chiếc xe trên cho bị can Nguyễn Đình V, không liên quan đến việc vay lãi. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho Nguyễn Đình V.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MI màu đen, có mật khẩu khóa màn hình, phía sau có dòng chữ Mode in china ModeP: M1805D1SG. Cơ quan điều tra đã làm việc với Nguyễn Đình V, Nguyễn Thị Q, sinh năm 1992, trú tại phố E, phường Q, thành phố T. Cơ quan CSĐT tiến hành kiểm tra về chiếc điện thoại trên nhưng không có liên quan đến việc cho vay lãi, là tài sản của chị Nguyễn Thị Quỳnh. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T trả lại tài sản trên cho chị Nguyễn Thị Quỳnh.
- Đối với xe Y Excter gắn BKS 36 B4 - 848.33, số khung RLCE1S9A0FY075280 và 01 giấy đăng ký xe mang tên Vũ Đức M1. Cơ quan điều tra đã làm việc với Vũ Đức M1, sinh năm 1992, trú tại S T, phường H, thành phố T xác định chiếc xe trên anh M1 đã bán cho chị Nguyễn Thị Q, không liên quan đến việc vay lãi. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho chị Nguyễn Thị Quỳnh .
- Đối với xe Honda SH màu đen, gắn BKS 36K-036.68, số khung RLGBA12BDD000702, số máy MVVEAD000702. Cơ quan điều tra đã làm việc với chị Nguyễn Thị H4, SN 1977, trú tại phố M, phường Q, thành phố T xác định chị H4 đã bán chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị Q, không liên quan đến việc vay lãi. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho chị Nguyễn Thị Quỳnh.
- Đối với xe Honda RSX màu đen gắn BKS: 36-AB 267.42, số khungRL9SCBAL7NDA00628, số máy HDA139FMBA000628. Cơ quan điều tra đã làm việc với Lê Thị N2, sinh năm 1986, trú tại khu phố Đ, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa xác định, chị N2 đã gửi chiếc xe trên tại nhà anh V không liên quan đến việc vay lãi. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho chị Lê Thị N2.
- Đối với xe Hon da Future màu trắng - đen gắn BKS 36B7-776.19, số khung RLHJC7637KY016951, số máy JC76E1023847. Cơ quan điều tra đã làm việc với anh Phạm Văn B, sinh năm 1973, trú tại phố T, phường Đ, thành phố T xác định, chiếc xe trên anh B đã bán cho bị can Trương Hoàng G, không liên quan đến việc vay lãi. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho Trương Hoàng Giang.
- Đối với 01 xe Honda Future màu đen, gắn BKS 36N1 - 207.00, số khungRLHJC7655NY352717. Cơ quan điều tra đã làm việc với anh Đào Văn K,SN 2002, trú tại khu phố Y, phường Q, thành phố S, Thanh Hóa xác định anh K đã gửi chiếc xe trên tại nhà V, không liên quan đến việc vay lãi. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho anh Đào Văn K.
- Đối với xe Honda SH màu đen, gắn BKS: 36B3 - 221.88, số khungZDCKF08A07F161648, số máy KF08E0095564KTGE1. Cơ quan điều tra đã làm việc với anh Phạm Duy T8, sinh năm 1992, trú tại SN G T, phường N, thành phố T xác định anh T8 đã gửi chiếc xe trên tại nhà V, không liên quan đến việc vay lãi. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho anh Phạm Duy T8 .
- Đối với xe ô tô nhãn hiệu KIA Moning màu bạc, BKS: 36A - 188.21 mang tên Nguyễn Viết B1, số máy G4LAFP 134610, số khung RNYTB 51MSG CO73056. Cơ quan điều tra đã làm việc với anh Nguyễn Viết B1, sinh năm 1989, trú tại phố A, phường Q, thành phố T và anh Lưu Đình L1, sinh năm 1968, trú tại phố E, phường Q, thành phố T xác định anh Lưu Đình L1 gửi chiếc xe trên tại nhà V, không liên quan đến việc vay lãi và theo đề nghị của anh Nguyễn Viết B1 trả lại chiếc xe trên cho anh L1. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe ô tô nói trên cho anh Lưu Đình L1.
- Đối với 01 quyển sổ nhật ký G sử dụng để ghi chép theo dõi việc cho vay lãi và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6, màu vàng, gắn sim điện thoại số 0856.053.xxx do G sử dụng để liên lạc với khách vay và hỏi tiền nợ. Theo khai báo của G vào cuối tháng 4 năm 2024 G bỏ túi quần đi đường đã làm rơi không biết mất ở đâu. Ngày 09/05/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của G đồng thời ra thông báo truy tìm nhưng không phát hiện, thu giữ được.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết quả điều tra đã xác định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đầy đủ lời khai.
Cáo trạng số 256/CT- VKSTPTH ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Đình V về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự, Trương Hoàng G về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 (đối với bị cáo V); khoản 1, 3 Điều 201; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 (đối với bị cáo G); Điều 17; Điều 58 BLHS (chung cho hai bị cáo); Điều 65 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Đình V; Điều 36 BLHS đối với bị cáo Trương Hoàng G; điểm b Khoản 1 Điều 46, Khoản 2 Điều 47 của BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình V từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Đề nghị xử phạt bị cáo Trương Hoàng G từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập của bị cáo từ 5% - 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị xử phạt tiền mỗi bị cáo từ 30.000.000₫.
Về biện pháp tư pháp:
Truy thu từ bị cáo Nguyễn Đình V và Trương Hoàng G số tiền gốc khách hàng vay đã trả cho các bị cáo để sung quỹ nhà nước.
Truy thu số tiền lãi các bị cáo thu được tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Đình V, Trương Hoàng G phải trả lại số tiền thu lời bất chính đã thu của khách hàng, cụ thể Nguyễn Đình V phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho 07 khách vay, tổng là 90.774.670đ; Trương Hoàng G phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho 05 khách vay, tổng là 29.293.150đ.
Truy thu số tiền gốc của khách hàng chưa trả cho bị cáo Nguyễn Đình V và Trương Hoàng G.
Buộc Trương Hoàng G và Nguyễn Đình V phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho anh Nguyễn Văn H1: 4.178.083đ, chia phần mỗi bị cáo phải trả 2.089.041₫.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân khi phạm tội và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có khiếu nại gì cần được tiến hành theo thủ tục chung.
[2]. Các căn cứ là tình tiết định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây các bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, báo cáo và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
- Do có mục đích tư lợi cá nhân nên ngày 06/02/2024 V đưa tiền cho G để cho anh Nguyễn Văn H1 vay 50.000.000đ, dưới hình thức thế chấp với lãi suất 5.000.000đ/1 tháng/50.000.000đ, tương ứng 3.333₫/1.000.000đ/1 ngày (121,6%/năm), thu trước tiền lãi 5.000.000₫ và yêu cầu anh H1 thanh toán theo thời hạn lãi tháng là 30 ngày. Từ ngày 06/02/2024 đến ngày 06/03/2024, anh H1 đã trả cho G và V 01 tháng tiền lãi 5.000.000đ, còn nợ lại G và V tiền lãi từ ngày 07/03/2024 đến ngày 09/05/2024 (ngày bị ngăn chặn) và 50.000.000đ tiền gốc; số tiền nhằm thu lời bất chính với gói vay trên là 12.952.052đ; số tiền lãi đã thu 5.000.000đ; số tiền lãi thu theo quy định (20%/1 năm) là 821.917đ; số tiền đã thu lời bất chính với gói vay là 4.178.083đ; Trong đó V và G mỗi bị cáo thu lời bất chính số tiền 2.089.041₫.
Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2024, Nguyễn Đình V đã sử dụng số tiền 281.000.000₫ của cá nhân cho 07 khách hàng vay với lãi suất từ 3,333đ/1 triệu/1 ngày (121,6%/1 năm) đến 5.000đ/1 triệu/1ngày (182,5%/1 năm) đã vượt quá gấp 6, 2 đến 9,1 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự, nhằm thu lời bất chính số tiền là 124.499.997₫. Số tiền thu lời bất chính thực tế V đã thu được là: 90.774.670đ.
Trương Hoàng G đã sử dụng số tiền 69.000.000₫ của cá nhân cho 05 khách hàng vay với lãi suất từ 3,333đ/1 triệu/1 ngày (121,6%/1 năm) đến 10.000đ/1 triệu/1 ngày (365%/1 năm) đã vượt quá gấp 6, 2 đến 22,8 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự, nhằm thu lời bất chính số tiền là 50.156.164đ. Số tiền thu lời bất chính thực tế G đã thu được là 29.293.150₫.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình V phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự, Trương Hoàng G phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với hành vi Trương Hoàng G sử dụng 181.000.000₫ cho 03 người vay là anh Nguyễn Trọng N, Phạm Văn C3, Nguyễn Thanh T4 vay với lãi suất từ 1.500đ/1 triệu/1 ngày (54,7%/1 năm) đến 2.000đ/1triệu/1 ngày (73%/1 năm) đã vượt quá gấp 2,7 đến 3,65 lần mức lãi suất cao nhất mà Bộ luật Dân sự quy định (trong đó số tiền gốc đã thu được là 25.000.000đ, số tiền gốc chưa thu được là 156.000.000₫); tổng số tiền lãi nhằm thu là: 22.919.000đ; số tiền lãi đã thu được là 13.600.000đ; số tiền lãi thu theo quy định (20%/1 năm) là: 8.423.013đ; tổng số tiền lãi nhằm thu lợi bất chính là 14.495.986đ; số tiền thu lợi bất chính đã thu được là 5.176.986₫. Lãi suất Trương Hoàng G2 cho vay gấp từ 2,7 lần đến 3,65 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 BLDS nhưng chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khaorn 1 Điều 201 BLHS. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đề nghị Chủ tịch U xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự” quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 12, Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
Đối với người tên H5 ở phường Đ, thành phố T, G cho vay tiền với lãi suất cao, Cơ quan điều tra đã phố hợp với Công an phường Đ, thành phố T tiến hành rà soát, xác minh nhưng không xác định được người này nên không đủ căn cứ để xử lý.
[3]. Tính chất chung: Đây là vụ án có tính đồng phạm giản đơn, các bị cáo đồng phạm 01 hành vi cho vay với một khách hàng, ngoài ra các bị cáo phạm tội độc lập với hành vi cho các khách hàng khác vay bằng số tiền của cá nhân. Lợi dụng sự thiếu hiểu biết và do nhu cầu cần vay tiền của một số cá nhân, các bị cáo đã cho vay với lãi suất cao nhằm thu lời bất chính. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Các bị cáo nhận thức đầy đủ pháp luật hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích vụ lợi và thái độ xem thường pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Vai trò và trách nhiệm hình sự (TNHS) của từng bị cáo:
Đối với hành vi cho anh Nguyễn Văn H1 vay số tiền 50.000.000₫ ngày 06/02/2024 các bị cáo cùng bàn bạc thống nhất thỏa thuận lãi suất cho vay, Nguyễn Đình V là người bỏ tiền ra cho khách hàng vay, Trương Hoàng G là người trực tiếp thỏa thuận với khách và thu tiền lãi, tiền thu lời bất chính các bị cáo được hưởng nên trong hành vi này bị cáo V có vai trò cao hơn bị cáo G.
Đối với hành vi các bị cáo tự cho khách hàng vay thì các bị cáo phải chịu hình phạt đối với hành vi riêng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại các cơ quan tố tụng các bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội, vai trò và tình tiết giảm nhẹ TNHS của từng bị cáo thì Nguyễn Đình V phải chịu hình phạt cao hơn Trương Hoàng G là phù hợp. Tuy nhiên, đối với Nguyễn Đình V nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, được chính quyền địa phương xác nhận trước khi phạm tội chấp hành tốt chính sách pháp luật và nghĩa vụ công dân. Do vậy, cần áp dụng Điều 65 của BLHS để cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian thử thách là đúng với hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo (sửa đổi bổ sung năm 2022).
Đối với bị cáo Trương Hoàng G chưa có tiền án, nhưng có 01 tiền sự và nhân thân bị xử phạt tù cho hưởng án treo, nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 BLHS là phù hợp. Bị cáo bị tạm giữ 09 ngày, khi quyết định hình phạt cần trừ đi thời gian tạm giữ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo, 09 ngày = 18 ngày.
Bị cáo có công việc, thu nhập mỗi tháng 7.000.000₫ nên khấu trừ thu nhập của bị cáo 5% mỗi tháng là 350.000đ để sung quỹ Nhà nước.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội, có thu lời bất chính, do đó cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo để nộp Ngân sách nhà nước là phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 201 của BLHS.
[6]. Về biện pháp tư pháp:
I. Đối với bị cáo Nguyễn Đình V:
Đối với số tiền bị cáo V dùng để cho vay lãi nặng, đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, hiện nay những người vay đã trả một số tiền gốc cho bị cáo, do đó cần truy thu của bị cáo toàn bộ số tiền dùng để cho vay lãi nặng là 90.000.000đ để thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền lãi theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 BLDS; Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017, Nguyễn Đình V đã thu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là 26.670.408đ. Xác định đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo toàn bộ số tiền lãi này để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền thu lời bất chính: Buộc Nguyễn Đình V phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho 07 khách vay tổng là 90.774.670₫ gồm: chị Nguyễn Thị H2: 16.569.864đ; anh Nguyễn Cảnh H3: 32.588.549₫; anh Phạm Văn Đ: 10.027.398đ; chị Đinh Thị G1: 7.249.316₫; chị Ngô Thị D1: 1.346.302đ; anh Chu Đình C1: 310.685₫; anh Nguyễn Trọng C2: 17.808.000₫.
Truy thu của 04 khách vay chưa thanh toán số tiền vay cho bị cáo Nguyễn Đình V gồm: anh Nguyễn Trọng C2 200.000.000₫, anh Chu Đình C1 8.000.000đ; chị Nguyễn Thị H2 20.000.000đ, anh Nguyễn Văn H1 45.000.000đ.
II. Đối với Trương Hoàng G:
Đối với số tiền bị cáo G dùng để cho vay lãi nặng, đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, hiện nay những người vay đã trả một số tiền gốc cho bị cáo, do đó cần truy thu của bị cáo toàn bộ số tiền dùng để cho vay lãi nặng là 63.000.000đ để thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền lãi theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 BLDS; Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017, Trương Hoàng G đã thu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là 4.717.807đ. Xác định đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo toàn bộ số tiền lãi này để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền thu lời bất chính: Buộc Trương Hoàng G phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho 05 khách vay tổng là 29.293.150₫ gồm: anh Nguyễn Sỹ X: 1.671.233đ; anh Nguyễn Văn H1: 3.342.466đ; anh Lê Khắc T1: 12.799.920đ; anh Lê Xuân D: 6.089.042₫; anh Lê Văn P1: 4.780.813₫.
Truy thu của anh Nguyễn Sỹ X 6.000.000₫ số tiền gốc chưa trả cho bị cáo Trương Hoàng G.
Bị cáo Nguyễn Đình V và Trương Hoàng G liên đới trả lại số tiền thu lười bất chính cho anh Nguyễn Văn H1 là 4.178.083đ, trong đó V và G mỗi bị cáo trả cho anh H1 tiền lời bất chính là 2.089.041₫.
Truy thu số tiền thu lời bất chính từ bị số tiền lãi thu theo quy định (20%/1 năm) là 821.917đ, chia theo phần bị cáo Trương Hoàng G và Nguyễn Đình V phải truy thu số tiền 410.958₫.
[8]. Về án phí: Đối với khoản thu lời bất chính bị cáo phải trả lại cho người vay tiền, căn cứ vào Điều 23, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì không buộc bị cáo phải chịu án phí.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2, 3 Điều 201; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm b Khoản 1 Điều 46, Khoản 2 Điều 47; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS (đối với bị cáo Nguyễn Đình V);
- Khoản 1, 3 Điều 201; Điều 36; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm b Khoản 1 Điều 46, Khoản 2 Điều 47; Điều 17; Điều 58 BLHS (đối với bị cáo Trương Hoàng G).
- Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đình V, Trương Hoàng G phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Đình V 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đình V cho Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
Bị cáo Trương Hoàng G 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 27 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 14 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao bản án.
- Khấu trừ thu nhập bị cáo Trương Hoàng G mỗi tháng 350.000đ để sung quỹ Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung:
Phạt bị cáo Nguyễn Đình V số tiền 45.000.000đ để thu nộp Ngân sách nhà nước.
Phạt bị cáo Trương Hoàng G số tiền 35.000.000₫ để thu nộp Ngân sách nhà nước.
Về biện pháp tư pháp:
Truy thu từ bị cáo Nguyễn Đình V số tiền dùng vào việc phạm tội: 91.000.000đ; tiền do phạm tội mà có: 26.670.408đ để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Truy thu từ bị cáo Trương Hoàng G số tiền dùng vào việc phạm tội: 63.000.000đ; tiền do phạm tội mà có: 4.717.807₫ để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Truy thu của 04 khách vay chưa thanh toán số tiền gốc cho bị cáo Nguyễn Đình V gồm: anh Nguyễn Trọng C2 200.000.000đ, anh Chu Đình C1 8.000.000đ; chị Nguyễn Thị H2 20.000.000đ, anh Nguyễn Văn H1 45.000.000₫.
Truy thu số tiền thu lời bất chính từ bị cáo Nguyễn Đình V, Trương Hoàng G số tiền lãi thu theo quy định (20%/1 năm) từ khoản vay của anh Nguyễn Van H6 là 821.917đ, chia theo phần bị cáo Trương Hoàng G và Nguyễn Đình V phải truy thu số tiền 410.958₫.
Truy thu của 01 khách hàng chưa trả tiền gốc cho Trương Hoàng G: anh Nguyễn Sỹ X 6.000.000₫.
Buộc Nguyễn Đình V phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho: 07 khách hàng vay gồm: chị Nguyễn Thị H2: 16.569.864đ; anh Nguyễn Cảnh H3: 32.588.549₫; anh Phạm Văn Đ: 10.027.398đ; chị Đinh Thị G1: 7.249.316đ; chị Ngô Thị D1: 1.346.302đ; anh Chu Đình C1: 310.685đ; anh Nguyễn Trọng C2: 17.808.000₫.
Buộc Trương Hoàng G phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho: 05 khách hàng vay gồm: anh Nguyễn Sỹ X: 1.671.233đ; anh Nguyễn Văn H1: 3.342.466đ; anh Lê Khắc T1: 12.799.920đ; anh Lê Xuân D: 6.089.042đ; anh Lê Văn P1: 4.780.813₫.
Buộc Nguyễn Đình V và Trương Hoàng G phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho anh Nguyễn Văn H1 là 4.178.083đ, trong đó V và G mỗi bị cáo trả cho anh H1 tiền lời bất chính là 2.089.041₫.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Liên |
Bản án số 331/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 331/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
