Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 331/2025/HSST

Ngày: 27/5/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP . HCM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đỗ Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Dương Hoàng Chinh;
  • 2/ Ông Lê Văn Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 234/2025/TLST/HSST ngày 14 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 308/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Thùy T; sinh năm 1988; tại: Bạc Liêu; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã V, huyện H, Tỉnh Bạc Liêu; Cư trú: 27/12 đường B, khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn C và bà Trường Thị Đ; có chồng và 01 con sinh năm 2018; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2025

Bị hại: chị Hoàng Thị B; sinh năm 1976; Địa chỉ: số A K, khu phố B, phường H, Thành Phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

Người làm chứng: bà Trần Nguyễn Thục N – sinh năm 1980; Bà Lưu Thị Mỹ D; ông Ngô Thành T1 – sinh năm 1980(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 30/12/2024, Nguyễn Thùy T điều khiển xe mô tô hiệu yamaha jupiter, biển số 51S7-8829 chở Ngô Thành T1 lưu thông trên đường K, hướng từ chùa Ư ra đường P thuộc phường H, thành phố T. Khi đến chắn gác tàu hỏa KM1717+600 đường K, phường H, thành phố T, Thành Phố Hồ Chí Minh thì gặp chị Hoàng Thị B là nhân viên thực hiện nhiệm vụ chắn barie gác tàu hỏa đảm bảo an toàn hành lang đường sắt đóng cần chắn hết hoàn toàn nên T dừng xe mô tô lại chờ. Cùng lúc này, có một đôi nam nữ (chưa rõ lai lịch) đi hướng Phạm Văn Đ1 về chùa Ư bị vướng lại bên trong gác chắn nên chị B kêu là “thôi lỡ vượt qua rồi ở đây, khi tàu đi qua thì chị B mở chắn cho qua”, nhưng sau đó có 01 thanh niên mặc áo G (chưa rõ lai lịch) đứng cạnh gác chắn và nâng rào chắn lên để đôi nam nữ chạy xe vào hướng chùa Ư, nên chị B có kêu nam thanh niên đó dừng lại và xảy ra mẫu thuẫn cãi nhau.

Lúc này, T đậu xe cạnh gác chắn tàu và nói với chị B "cho người ta qua, làm gì mà ghê vậy" thì chị B trả lời "bà biết gì mà nói, bà im lại đi" . Nghe vậy, T bực tức nên dựng xe đi bộ tiến lại gần chị B và dùng tay phải đấm 01 cái vào mặt chị B, túm tóc chị B và dùng chân phải lên gối vào mặt chị B 03 cái thì người đi đường can ngăn nhưng T tiếp tục dùng tay phải đấm 02 cái vào mặt chị B, khi được mọi người kéo ra thì T mới dừng lại.

Sau khi xảy ra sự việc chị B đến Bệnh viện thành phố T cấp cứu rồi đến Công an phường H trình báo và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với T nên Công an phường H tiến hành mời T về làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Thùy T khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ông Ngô Thành T1 và bà Lưu Thị Mỹ D trình bày nội dung sự việc phù hợp với lời khai của T.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 03/KLTTCT-C09B ngày 02/01/2025 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • Diện sưng nề vùng cánh mũi phải.
  • Vết xước niêm mạc môi trên bên trái không khâu.
  • Vết xước niêm mạc môi dưới bên trái không khâu.
  • Vết bầm tụ máu mỏm cùng vai trái.
  • Gãy xương mũi.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Thị B tại thời điểm giám định là: 09% (Chín phần trăm).

3. Kết luận khác:

  • Tỷ lệ tổn thương Gãy xương mũi: 09%.
  • Các thương tích trên cơ thể của Hoàng Thị B có đặc điểm phù hợp do vật tày tác động gây ra.
  • Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y không hướng dẫn xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với các thương tích sưng nề, bầm tụ máu, vết xước niêm mạc môi không khâu”.

Vật chứng vụ án:

  • 01 mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu xanh, biển số 51S7-8829, số máy 5VT258413, số khung RLC5VT204Y058413.
  • 01 quần thun dài màu trắng đốm chấm đen;
  • 01 áo thun ngắn tay màu trắng đốm chấm đen;
  • 01 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến nội dung vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hoàng Thị B yêu cầu Nguyễn Thùy T bồi thường số tiền 10.000.000 đồng là tiền chi phí điều trị và thiệt hại sức khỏe, tình thần.

[2] Bản Cáo trạng số 240/CT-VKSTPTĐ ngày 11/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Thùy T tội: “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thùy T phạm tội: “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, và tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) 06 (sáu) tháng tù.

Về phần dân sự quá trình điều tra bị hại yêu cầu bồi thường 10.000.000 đồng là chi phí hợp lý bồi thường thương tích và tổn hại tinh thần cho bị hại, đồng thời bị cáo cũng đồng ý bồi thường nên chấp nhận yêu cầu của bị hại.

Về vật chứng để nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tranh luận hoặc bào chữa gì.

Bị hại chị Hoàng Thị B tranh luận: về phần dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường như hai bên đã thỏa thuận tại phiên tòa, thống nhất mức bồi thường là 10.000.000 đồng. Về phần hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thùy T phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 30/12/2024, Nguyễn Thùy T do bực tức trong lời nói của chị Hoàng Thị B nên đã có hành vi dùng tay không, chân đánh, đấm tấn công bị hại Hoàng Thị B gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09% tại khu vực chắn gác tàu hỏa Km 1717+600 đường K, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét giữa bị cáo và bị hại hoàn toàn không có mâu thuẫn cá nhân chỉ vì lời nói của bị hại mà bị cáo tấn công gây thương tích cho bị hại, thể hiện hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ.

Chị Hoàng Thị B là nhân viên đang thực hiện nhiệm vụ chắn barie gác tàu hỏa đảm bảo an toàn hành lang đường sắt, được phân công nhiệm vụ và đang thực hiện đúng vai trò vị trí được phân công. Bị cáo T đã thực hiện dừng xe mô tô lại chờ khi chị B thực hiện chắn barie, vì vậy bị cáo không có hành vi chống người thi hành công vụ, nhưng do tức giận trong lời nói của chị B khi chị B thực hiện nhiệm vụ mà bị cáo T có hành vi tấn công chị B gây thương tích cho chị B bị cáo đã phạm tội với người đang thi hành công vụ.

Như vậy có cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm i, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của con người, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự công cộng, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật của nhà nước. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo mới có đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa.

[3] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thấy được trách nhiệm của mình trong việc bồi thường thiệt hại cho chị B nên đồng ý bồi thường cho chị B đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • 01 mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu xanh, biển số 51S7-8829, số máy 5VT258413, số khung RLC5VT204Y058413. Qua xác minh xe mô tô trên do chị Trần Nguyễn Thục N đứng tên chủ sở hữu. Chị N đã bán lại cho Nguyễn Thùy T vào năm 2010 nhưng chưa sang tên đổi chủ. Chiếc xe không liên quan đến vụ án nêu trả lại cho bị cáo.
  • 01 quần thun dài màu trắng đốm chấm đen; 01 áo thun ngắn tay màu trắng đốm chấm đen; không có giá trị sử dụng, tích thu tiêu hủy.
  • 01 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến nội dung vụ án được tiếp tục lưu trữ kèm hồ sơ vụ án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thỏa thuận bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị Hoàng Thị B số tiền 10.000.000 đồng và bị cáo chấp nhận mức bồi thường này, Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo thi hành.

[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 38; điểm i, k khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thùy T 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2025.
  • - Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 590; Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
  • Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Thùy T và bị hại Hoàng Thị B thống nhất mức bồi thường thiệt hại về viện phí, tổn thất về sức khỏe và tinh thần số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Bị cáo Nguyễn Thùy T phải bồi thường cho chị Hoàng Thị B số tiền nêu trên.
  • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án, còn phải trả tiền lãi của số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
  • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thùy T: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu xanh, biển số 51S7-8829, số máy 5VT258413, số khung RLC5VT204Y058413 nhưng được giữ lại để đảm bảo thi hành án cho bị hại bà Hoàng Thị B.
  • + Tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án: 01 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến nội dung vụ án.
  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 quần thun dài màu trắng đốm chấm đen; 01 áo thun ngắn tay màu trắng đốm chấm đen.
  • (Vật chứng tại Phiếu nhập kho số NK25/264C ngày 02/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
  • - Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng (năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - VKSND, CA, Chi cục THA TPTĐ
  • - PC10
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thu Thảo

Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.

Các Hội thẩm nhân dânChủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 331/2025/HSST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP . HCM về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 331/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP . HCM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger