|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 331/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 6 - 2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Xuân Thường
- Bà Hoàng Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại: trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 195/2025/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 2002; Địa chỉ cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Khối Nam B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H; sinh năm: 1969; Địa chỉ: khối Nam B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Uỷ quyền giao, nhận văn bản tố tụng).
- Bị đơn: Anh Đinh Xuân D, sinh năm 1994; Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; hiện đang làm việc và cư trú tại: Nhật Bản (không rõ địa chỉ). Vắng mặt (lần thứ hai).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; địa chỉ: Khối Nam B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong “Đơn khởi kiện” đề ngày 20/02/2025, Bản tự khai ngày 07/4/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày: Chị và anh Đinh Xuân D kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 05/01/2023. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống không quan tâm lẫn nhau, việc của ai người đó làm. Đến tháng 7 năm 2024 anh D đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Từ khi anh D đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản thỉnh thoảng vợ chồng có liên lạc với nhau, nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Hiện nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Xuân D. Tuy nhiên, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Trần Thị N không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Đinh Xuân D tại Nhật Bản mà chỉ biết anh D vẫn thường xuyên liên lạc về với mẹ đẻ là bà Võ Thị L, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và bà L biết địa chỉ cụ thể của anh D tại Nhật Bản nên đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Về con chung: Chị và anh Đinh Xuân D có 01 con chung là Đinh Thị Ngọc A, sinh ngày 30/6/2023, hiện nay cháu Ngọc A đang sống cùng chị. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu Đinh Thị Ngọc A cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi, trưởng thành và không yêu cầu anh Đinh Xuân D cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, vì điều kiện phải đi làm ăn xa nên chị tạm giao cháu Đinh Thị Ngọc A cho mẹ chị là bà Nguyễn Thị H; sinh năm: 1969; Địa chỉ: khối Nam B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An quản lý và chăm sóc trong thời gian chị đi làm ăn xa.
- Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, bị đơn là anh Đinh Xuân D vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 722/QLXNC- Đ1 ngày 10/03/2025 của Phòng Q, Công an tỉnh N thì: “Anh Đinh Xuân D, sinh ngày 20/4/1994 đã xuất cảnh ngày 07/7/2024 qua cửa khẩu S, chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh D ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa ... nhưng anh D vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.
Tại đơn trình bày ngày 14/4/2025, bà Võ Thị L trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Đinh Xuân D. Con trai bà hiện nay đang lao động tại Nhật Bản. Từ lúc anh D đi nước ngoài đến nay vẫn thường xuyên liên lạc về với bà qua ứng dụng Facebook để hỏi thăm sức khỏe của người nhà ở Việt Nam. Anh D1 đã biết việc chị N đang làm đơn ly hôn. Còn về địa chỉ của anh D1 ở nước ngoài bà không biết cụ thể nên không cung cấp cho Tòa án được.
Tại Bản tự khai đề ngày 07/4/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày: Chị Trần Thị N là con gái của bà, chị N và anh Đinh Xuân D có 01 con chung là Đinh Thị Ngọc A, sinh ngày 30/6/2023. Khi chị N và anh D ly hôn với nhau mà Tòa án giao cháu Ngọc A cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị N đi làm ăn ở xa, chị N có nhờ bà quản lý và chăm sóc cháu Đinh Thị Ngọc A thì bà đồng ý. Về các chi phó chăm sóc cháu Ngọc A thì bà không yêu cầu chị N và anh D phải thanh toán cho bà. Vì điều kiện ở xa đi lại khó khăn, nên bà xin được vắng mặt trong các buổi làm việc, các phiên họp và các phiên tòa mà Tòa án mở để xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 và 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Đinh Xuân D.
- + Về con chung: giao cháu Đinh Thị Ngọc A, sinh ngày 30/6/2023 cho chị Trần Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh D do chị N chưa có yêu cầu.
- + Về tài sản, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- + Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 20/02/2025, chị Trần Thị N có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Đinh Xuân D. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị N và anh D đều có nơi thường trú tại xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nhưng từ tháng 7/2024 thì anh D đã đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản đến nay chưa về nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Đinh Xuân D là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Anh Đinh Xuân D, hiện nay vẫn đăng ký thường trú tại xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại Nhật Bản từ tháng 7/2024, không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ nơi cư trú hiện nay. Tòa án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ anh D ở nước ngoài nhưng theo bà Võ Thị L (mẹ đẻ của anh D) thì anh D tuy vẫn có liên hệ với gia đình và đã biết việc Toà án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị N nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên bà L không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Đinh Xuân D.
[2]. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị N:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị N và anh Đinh Xuân D được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hòa thuận và có với nhau một người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng từ tháng 7/2024 cho đến nay, vợ chồng không quan tâm, liên lạc gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh D lại không có mặt tại Tòa án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài nhưng đã ly thân một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì đề đoàn tụ, nguyên đơn chị N cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị N yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị N trình bày: Vợ chồng chị N, anh D có một con chung là Đinh Thị Ngọc A, sinh ngày 30/6/2023. Nay ly hôn, chị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu cấp dưỡng. Hội đồng xét thấy: Theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì việc nuôi con chung chưa thành niên sau ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Mặt khác, cháu Ngọc A lại đang còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, từ khi sinh ra đến nay cháu đã ở với chị N, được chăm sóc, phát triển hoàn toàn khỏe mạnh, bình thường nên yêu cầu được nuôi con của chị N là hoàn toàn chính đáng. Anh Dũng hiện nay lại đang ở nước ngoài, bà L (mẹ đẻ của anh D) không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh D tại nước ngoài nên cần giao con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên. Chị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét. Đồng thời, do điều kiện phải đi làm ăn xa nên chị N đề nghị tạm giao cháu Ngọc A cho bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ chị N) tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng để cháu ổn định cuộc sống; bà H cũng đồng ý với nguyện vọng này của chị N. Vì vậy, cần ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự, tạm giao cháu Đinh Thị Ngọc A cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị N đi làm ăn xa. Về việc thanh toán chi phí chăm sóc nuôi dưỡng con chung, do bà H không yêu cầu nên Toà án không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị N không yêu cầu Toà án giải quyết, anh D cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.
[3]. Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị N được ly hôn với anh Đinh Xuân D.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung là Đinh Thị Ngọc A, sinh ngày 30/6/2023 cho chị Trần Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H trong việc nhận trách nhiệm tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đinh Thị Ngọc A trong thời gian chị Trần Thị N đi làm ăn xa.
Về cấp dưỡng nuôi con chung và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: chị Trần Thị N không yêu cầu, anh Đinh Xuân D cũng chưa có ý kiến và bà Nguyễn Thị H không có yêu cầu gì nên Toà án không xem xét.
Anh Đinh Xuân D có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Đinh Xuân D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị N không yêu cầu và anh Đinh Xuân D cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0045 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Trần Thị N, bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Đinh Xuân D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 331/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 331/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị N và anh D
