TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 331/2025/DSST
Ngày: 23/05/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vui
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Văn Tiến
- Ông Nguyễn Văn Tiên
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Quang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Phạm Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 23/05/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 649/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 327/2025/QĐXXST-DS ngày 25/03/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 507/2025/QĐ-ST ngày 24/4/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
- Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D
- Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và Khai thác Tài sản Ngân hàng S
- Đại diện theo pháp luật của Công ty: Ông Lê Ngọc T
- Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lã Ngọc M (có đơn xin vắng mặt)
- Địa chỉ: B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Địa chỉ: 4 đường H, khu phố G (nay là KP D), phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ngân hàng Thương mại Cổ phần S có ông Lã Ngọc M là đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Ngày 16/11/2020, ông Nguyễn Trung H có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 107.243.647 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 100.193.632 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 11/8/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 19/5/2024, ông Nguyễn Trung H còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S các khoản sau:
- - Dư nợ gốc: 11.956.918 đồng
- - Lãi quá hạn: 10.072.512 đồng
- Tổng cộng: 22.029.430 đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Trung H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 23/5/2025 là 27.765.166 đồng (bao gồm dư nợ gốc: 11.956.918 đồng và lãi quá hạn: 15.808.248 đồng) và buộc ông Nguyễn Trung H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 24/5/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định trong hợp đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Trung H đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý cũng như triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không có bản tự khai gửi cho Toà án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S do ông Lã Ngọc M là đại diện theo uỷ quyền có đơn xin xét xử vắng mặt và có bản tự khai vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Nguyễn Trung H đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Toà án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Trung H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 239, 240, 241, 242, 247, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 255, 256, 257, 259, 260 và Điều 263 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ Điều 91, khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc bị đơn ông Nguyễn Trung H thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền tính đến ngày 27.765.166 đồng (bao gồm dư nợ gốc: 11.956.918 đồng và lãi quá hạn: 15.808.248 đồng) và khoản lãi phát sinh kể từ ngày 24/5/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định trong hợp đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/9/2024 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn Trung H phải trả ngay một lần cho Ngân hàng số tiền còn nợ phát sinh dựa trên hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Do đó, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ cư trú của bị đơn theo Hợp đồng nhưng bị đơn thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú nên Toà án tiến hành thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung. Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thì ông Nguyễn Trung H cung cấp địa chỉ nơi ở hiện tại tại Quận A, do đó thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Toà án nhân dân Quận 12 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về việc áp dụng pháp luật
Do các bên phát sinh quan hệ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng vào ngày 16/11/2020, do đó, Toà án áp dụng các quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để giải quyết tranh chấp giữa các bên.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Lã Ngọc M có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Trung H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[4.1] Về yêu cầu trả tiền gốc và lãi quá hạn
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 16/11/2020 của Ngân hàng thì các bên đã đồng ý với các điều khoản thoả thuận trong hợp đồng. Do ông Nguyễn Trung H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện là có cơ sở.
Đối với số tiền gốc và lãi: Ngày 16/11/2020, ông Nguyễn Trung H có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng số thẻ 3641702042, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 107.243.647 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 100.193.632 đồng. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 11/8/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Dựa trên bảng chiết tính các khoản nợ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cung cấp cho Toà án thì tính đến ngày 23/5/2025, ông Nguyễn Trung H còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S các khoản sau:
- - Dư nợ gốc: 11.956.918 đồng
- - Lãi quá hạn: 15.808.248 đồng
- Tổng cộng: 27.765.166 đồng.
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và các mục 18, 19, 20, 21, 22, 23 và 24 bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S thì ông Nguyễn Trung H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến thời điểm xét xử là 27.765.166 đồng (bao gồm dư nợ gốc: 11.956.918 đồng và lãi quá hạn: 15.808.248 đồng) và buộc ông Nguyễn Trung H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/05/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định trong hợp đồng là có cơ sở chấp nhận.
[4.2] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận toàn bộ.
[5] Về án phí
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn ông Nguyễn Trung H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và Điều 98 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
Buộc ông Nguyễn Trung H phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày xét xử 23/5/2025 là 27.765.166 (Hai mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi lăm ngàn một trăm sáu mươi sáu) đồng (bao gồm dư nợ gốc: 11.956.918 đồng và lãi quá hạn: 15.808.248 đồng).
Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Trung H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/11/2020 và văn bản Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng được ký kết giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Trung H cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm
Bị đơn ông Nguyễn Trung H phải chịu án phí 1.388.258 đồng (Một triệu ba trăm tám mươi tám ngàn hai trăm năm mươi tám đồng).
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 550.736 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn bảy trăm ba mươi sáu đồng) theo Biên lai đóng tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0042135 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành án tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
- Về quyền kháng cáo
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vui |
Bản án số 331/2025/DSST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 331/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp HĐ tín dụng
