Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 331/2024/HSPT

Ngày: 17 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Trực

Các Thẩm phán:

  1. Ông Đặng Hồng Sơn;
  2. Ông Bùi Đức Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 289/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo Trần Thị Kim T và Nguyễn Hữu Anh T, do có kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bản án hình sự sơ thẩm số 126/2024/HSST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo bị kháng nghị:

1. Nguyễn Hữu Anh T; giới tính: nam; ngày sinh 04 tháng 01 năm 1982, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: 244 đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Tiết G và bà Nguyễn Thị H; Vợ: Trần Thị Kim T và có 02 người con (sinh năm 2017 và năm 2019); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/12/2023 - có mặt.

2. Trần Thị Kim T; giới tính: nam; ngày sinh 25 tháng 8 năm 1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: 244 đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Văn T và bà Trần Thị O; chồng: Nguyễn Hữu Anh T và có 02 người con (sinh năm 2017 và năm 2019); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/12/2023- có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T1 liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu Anh T và Trần Thị Kim T là vợ chồng, cùng sống tại nhà địa chỉ số 244 Nơ Trang Long, Phường 12, quận Bình Thạnh. Vào ngày 24/12/2023, T1 liên lạc qua zalo với người tên Thận (không rõ lai lịch), là bạn quen xã hội, để mua ma túy về để T1 và T cùng sử dụng. Sau khi hẹn địa điểm, T1 đến trước nhà số 68D Trần Bình Trọng, Phường 5, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh gặp Thận, mua của Thận 01 gói ma túy đá với giá 650.000 đồng, rồi mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, T1 lấy số ma túy của Thân để sử dụng cùng với T tại nhà thì bị Công an Phường Phường 12 kiểm tra phát hiện, thu giữ 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh có chứa tinh thể rắn không màu và 01 ống hút nhựa.

Đối với tiền sử dụng để mua ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy là tiền của 02 vợ chồng. Nhà 244 Nơ Trang Long, Phường 12, quận Bình Thạnh là nhà của bố mẹ T1 để lại cho 02 vợ chồng ở.

Kết luận giám định số 395/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận số tinh thể rắn không màu trong gói nylon và trên nỏ thủy tinh là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamin, có tổng khối lượng 0,7651 gam.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 126/2024/HSST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

  1. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Anh T 02 (hai) năm tù về “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  3. Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2023.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Tại Quyết định kháng nghị số 23/QĐ-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định kháng nghị phúc thẩm toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2024/HSST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng: hủy bản án sơ thẩm nêu trên do có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt hành vi của tội phạm, để điều tra lại theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên Quyết định kháng nghị.

- Các bị cáo Nguyễn Hữu Anh T và Trần Thị Kim T khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Về kháng nghị của Viện kiểm sát các bị cáo xác định không tổ chức sử dụng ma túy, do vợ chồng đều nghiện ma túy nên thống nhất dùng tiền sinh hoạt chung mua ma túy về sử dụng tại nhà của mình thì bị Công an phát hiện quả tang cùng vật chứng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Với các T1 liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo Nguyễn Hữu Anh T và Trần Thị Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ T1 liệu chứng cứ thu thập được và lời khai nhận của các bị cáo thì ngoài việc tàng trữ ma túy để sử dụng thì hành vi vi phạm của các bị cáo còn có dấu hiệu của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Do vậy đề nghị chấp nhận kháng nghị, Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T1 liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, Công an Phường Phường 12 kiểm tra phát hiện quả tang vợ chồng Nguyễn Hữu Anh T và Trần Thị Kim T đang cùng nhau sử dụng chất ma túy tại nhà số 244 Nơ Trang Long, Phường 12, quận Bình Thạnh (nhà của cha mẹ T1 cho vợ chồng ở) và thu giữ 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh có chứa tinh thể rắn không màu và 01 ống hút nhựa.

Kết quả điều tra xác định, vợ chồng T1 – T nghiện ma túy nên thỏa thuận dùng tiền của vợ chồng mua ma túy của một người tên Thận về cùng nhau sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ số ma túy, qua giám định là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamin, có khối lượng 0,7651 gam.

Với hành vi phạm tội trên của các bị cáo Nguyễn Hữu Anh T và Trần Thị Kim T,Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Quyết định kháng nghị phúc thẩm toàn bộ bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có nhận định: “ ...Căn cứ vào các T1 liệu chứng cứ thu thập, lời khai của các bị cáo Nguyễn Hữu Anh T và Trần Thị Kim T thể hiện cả hai đều nghiện ma túy (ma túy đá), sau đó T1 vào mạng xã hội liên hệ mua 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy mục đích để hai vợ chồng cùng sử dụng tại nhà. Vào ngày 24/12/2023, T1 đi mua ma túy về cho cả hai vợ chồng cùng sử dụng tại phòng riêng cho đến khi bị lực lượng chức năng bắt giữ. Đối với số tiền mua ma túy và dụng cụ dùng để sử dụng ma túy là tiền chung của cả hai vợ chồng và T đồng ý cho T1 dùng số tiền trên mua ma túy...”, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, các bị cáo Nguyễn Hữu Anh T và Trần Thị Kim T có quan hệ là vợ chồng cùng là người bị nghiện ma túy, đã thống nhất dùng tiền (T1 sản chung của vợ chồng) để mua ma túy và sử dụng địa điểm chính là nơi ở của vợ chồng để sử dụng ma túy. Căn cứ hướng dẫn tại Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao xác định: “...tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy...” đối chiếu với hành vi vi phạm của các bị cáo Nguyễn Hữu Anh T và Trần Thị Kim T đã thực hiện thì không thỏa các hành vi theo hướng dẫn nêu trên. Các bị cáo là vợ chồng cùng là người nghiện ma túy, cùng nhau dùng tiền của mình mua ma túy đem về nhà của mình để sử dụng ma túy nên không có dấu hiệu của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do vậy, xét không chấp nhận kháng Nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01/01/2017.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 23/QĐ-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2024/HSST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Anh T 02 (hai) năm tù về “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2023.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2023.

Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận :

  • - TANDTC; (1)
  • - TAND Cấp cao tại TP .HCM; (1)
  • - VKSND TP HCM; (3)
  • - VKSND quận Bình Thạnh; (1)
  • - P. PC27 – CATP; (2)
  • - Bị cáo; Trại giam (4)
  • - THA quận Bình Thạnh; (1)
  • - TAND quận Bình Thạnh; (1)
  • - Công an quận Bình Thạnh; (1)
  • - UBND nơi BC cư trú; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Lưu,Tòa hình sự, hồ sơ (22).(5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Trực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 331/2024/HSPT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 331/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 23/QĐ-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2024/HSST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Anh T 02 (hai) năm tù về “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2023. Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger