Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 3304/2024/DS-ST.

Ngày: 23/7/2024.

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Đời.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cao Quốc Hưng;
  2. Ông Nguyễn Cửu Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự thụ lý số 1670/2023/TLST-DS ngày 27/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3909/2024/QĐXXST-DS ngày 06/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4120/2024/QĐST-DS ngày 26/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam). Địa chỉ: Số 1 đường P, phường B, Quận A, TP...

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000. Địa chỉ: P, tầng D, Tòa nhà số G đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Diễm Phương K, sinh năm 1989. Địa chỉ: 2 đường T, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – Công ty T (Việt Nam), sau đây gọi là Công ty T, trình bày:

Ngày 23/9/2022, Công ty T ký Hợp đồng tín dụng số 3667791 về việc cấp tín dụng cho bà Nguyễn Diễm P Khiêm vay số tiền 28.000.000 đồng, lãi suất 44%/năm. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định. Theo Hợp đồng tín dụng, bà K có nghĩa vụ thanh toán trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 16/2/2022 đến ngày 15/9/2024. Tuy nhiên, sau khi được giải ngân bà K mới chỉ thanh toán 9.513.911 đồng (5 kỳ), ngày cuối cùng thanh toán là 15/02/2023. Từ ngày 16/02/2023, bà K không thanh toán/thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay nêu trên. Công ty T đã tiến hành liên hệ qua điện thoại cũng như gửi thư đề nghị bà K thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng đồng đã ký kết nêu trên. Tuy nhiên bà K không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho phía Công ty T.

Nay Công ty T đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Nguyễn Diễm Phương K thanh toán cho Công ty T số tiền tạm tính đến ngày 24/8/2023 là: 31.280.191 đồng, trong đó: Số dư nợ gốc chưa thanh toán: 25.258.435 đồng; số tiền lãi trong hạn: 4.937.962 đồng; số tiền lãi quá hạn: 964.107 đồng; số tiền lãi chậm trả: 119.687 đồng. Buộc bà Nguyễn Diễm Phương K phải thanh toán lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 25/8/2023 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

- Bị đơn – bà Nguyễn Diễm Phương K mặc dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt từ lúc thụ lý vụ án cho đến trước phiên tòa và cũng không có ý kiến, bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến và xác định yêu cầu khởi kiện: Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tính đến ngày 23/7/2024 tổng cộng là 44.598.690 đồng (trong đó: Nợ gốc là 25.258.435 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.399.776 đồng, nợ lãi quá hạn là 9.109.175 đồng, tiền lãi chậm trả là 831.304 đồng). Buộc bị đơn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn kể từ ngày 24/7/2028 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

- Bị đơn – bà Nguyễn Diễm Phương K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý đơn khởi kiện đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền; việc cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự, có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, xét xử đúng thời gian, địa điểm, đúng thành phần, thủ tục khai mạc phiên tòa đúng quy định.

+ Về nội dung vụ án: Do bà Nguyễn Diễm Phương K đã vi phạm các nghĩa vụ trong Hợp đồng tín dụng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho Công ty T tổng số tiền tính đến ngày 23/7/2024 là: 44.598.690 đồng; buộc bị đơn tiếp tục chịu lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 24/7/2024 cho đến khi thi hành xong khoản nợ. Án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án:

Xét thấy, nguyên đơn – Công ty T khởi kiện yêu cầu bị đơn – bà Nguyễn Diễm P Khiêm thanh toán các khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết (Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 3667791 ngày 23/9/2022), tranh chấp giữa hai bên xuất phát từ hợp đồng tín dụng, do đó quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015. Bị đơn có địa chỉ cư ngụ tại thành phố T nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

- Các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét về thời hiệu khởi kiện, do đó căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không xem xét về thời hiệu khởi kiện vụ án.

- Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và các phiên tòa sơ thẩm mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Xét Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3667791 ký ngày 23/9/2022:

Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký kết Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3667791 ký ngày 23/9/2022 (sau đây gọi chung là Hợp đồng tín dụng). Tại Hợp đồng tín dụng nêu trên, các bên có thỏa thuận cụ thể như sau: Số tiền vay 28.000.000

đồng, tiền bảo hiểm khoản vay là 1.848.000 đồng; thời hạn vay là 24 tháng (tương đương với 24 kỳ trả nợ); ngày đề nghị thanh toán là ngày 15 hàng tháng; ngày thanh toán đầu tiên là 15/10/2022, ngày thanh toán cuối cùng là 15/9/2024; lãi suất vay là 3,67%/tháng (tương đương 44%/năm) được áp dụng từ kỳ thứ 1 đến kỳ thứ 20, từ kỳ thanh toán thứ 21 đến 24 lãi suất là 0%. Ngoài ra, Hợp đồng tín dụng còn có những quy định về quyền, nghĩa vụ của bên được cấp tín dụng theo quy định pháp luật.

Xét Hợp đồng tín dụng được các bên ký kết có có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, các bên tự nguyện ký kết nên phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 12 của Luật Ngân hàng N năm 2010, do đó Hợp đồng tín dụng trên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

[4] Về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[4.1] Đối với yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn thanh toán tiền nợ gốc:

Thực hiện Hợp đồng tín dụng, nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn tổng số tiền 29.848.000 đồng vào ngày 23/9/2022. Theo Báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng do nguyên đơn cung cấp, thể hiện từ ngày giải ngân cho đến ngày xét xử bị đơn chỉ mới thanh toán cho nguyên đơn được 05 kỳ, với tổng số tiền là 9.513.911 đồng (trong đó thanh toán tiền gốc là 4.589.565 đồng; tiền lãi là 4.864.990 đồng; tiền phí là 59.356 đồng). Như vậy, số tiền vay gốc bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn tính đến ngày xét xử là 29.848.000 đồng - 4.589.565 đồng = 25.258.435 đồng, do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 25.258.435 đồng nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, khoản 1 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017) nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.2] Đối với yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn trả tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn và tiền lãi chậm trả:

Tại Mục 3.7 Phần B của Hợp đồng tín dụng có quy định: “Lãi suất hàng tháng 3.67%” và M 8.3 Phần B có quy định: “Tiền lãi trên dư nợ gốc quá hạn sẽ được tính theo công thức sau: 150% x (Lãi suất tại thời điểm nợ quá hạn) x (dư nợ gốc quá hạn) x (số ngày trễ hạn/365). Trong đó lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn là 150%x (lãi suất tại thời điểm chuyển nợ quá hạn) hoặc thấp hơn tùy theo quyết định của MAFC theo từng thời điểm. Tiền lãi chậm trả sẽ được tính theo công thức: 10% x (số dư lãi chậm trả) x (số ngày trễ hạn/365) trong đó lãi suất chậm trả là 10%/năm hoặc thấp hơn tùy theo quyết định của MAFC theo từng thời điểm”. Xét thấy, mức lãi suất do hai bên tự nguyện thỏa thuận và phù hợp với quy định tại Điều 4 và Điều 91

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N nên có cơ sở để hội đồng xét xử xem xét.

Như đã phân tích ở trên, bị đơn chỉ mới thanh toán tiền gốc, lãi cho nguyên đơn đến kỳ thứ 5 (15/02/2023), do đó tiền lãi trong hạn mà bị đơn có nghĩa vụ phải trả được tính từ kỳ thanh toán thứ 6 (15/3/2023) đến kỳ thứ 20 (15/5/2024) và số tiền lãi trong hạn phát sinh được tính theo thỏa thuận nêu trên tổng cộng là: 9.399.776 đồng.

Tiền lãi trên dư nợ gốc quá hạn và tiền lãi chậm trả được tính từ ngày 15/3/2023 đến ngày xét xử sở thẩm (23/7/2024) là 496 ngày, do đó số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn phát sinh được tính theo thỏa thuận nêu trên tổng cộng là: 9.109.175 đồng và tiền lãi chậm trả là 831.304 đồng.

Như vậy, tổng số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả phát sinh từ hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày xét xử (23/7/2024) là 19.340.255 đồng, số tiền này bị đơn chưa thanh toán nên đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng, do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.3] Đối với yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm:

Tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật....”, xét Hợp đồng tín dụng giữa các bên có thỏa thuận cụ thể về việc trả lãi, lãi suất, do đó theo quy định nêu trên thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/7/2024) cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ thì bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Như vậy, yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên của Hội đồng xét xử và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên chấp nhận toàn bộ. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tính đến ngày 23/7/2024 tổng cộng là 44.598.690 đồng, trong đó: Nợ gốc là

25.258.435 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.399.776 đồng, nợ lãi quá hạn là 9.109.175 đồng và tiền lãi chậm trả là 831.304 đồng. Bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 24/7/2028 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Án phí dân sự sơ thẩm được tính trên số tiền 44.598.690 đồng, tương đương án phí sơ thẩm là 2.229.935 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí, hoàn trả lại cho nguyên đơn toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 184; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 147; khoản 1 Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 4; Điều 91; khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017);

- Căn cứ Điều 12 Luật Ngân hàng N;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014);

- Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty T1 (Việt Nam).

Buộc bị đơn – bà Nguyễn Diễm Phương K có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn các khoản tiền tính đến ngày 23/7/2024 tổng cộng là 44.598.690 (bốn mươi bốn triệu năm trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm chín mươi nghìn) đồng, trong đó: Nợ gốc là 25.258.435 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.399.776 đồng, nợ lãi quá hạn là

9.109.175 đồng và tiền lãi chậm trả là 831.304 đồng. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (là ngày 24/7/2024) cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3667791 ký ngày 23/9/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của nguyên đơn thì lãi suất mà bị đơn phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của nguyên đơn.

Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc bị đơn – bà Nguyễn Diễm Phương K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.229.935 (hai triệu hai trăm hai mươi chín nghìn chín trăm ba mươi lăm) đồng. Bà K chưa nộp án phí.

- Hoàn trả lại cho nguyên đơn - Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 782.005 (bảy trăm tám mươi hai nghìn không trăm lẻ năm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0006094 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt, niêm yết, thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị bản án theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP.Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án (Đ-Hà), 15.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Danh Đời

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

C

Nguyễn Cửu Long Danh Đ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3304/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 3304/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền nợ theo HĐTD
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger