|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 330/2023/HS-ST Ngày 21-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Hạnh và bà Trần Thanh Vân
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Hoàng Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 294/2023/TLST-HS ngày 04/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 299/2023/QĐXXST-HS ngày 16/10/2023, đối với bị cáo:
ĐINH QUANG H (tên gọi khác: Không); sinh ngày 04/12/2001; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Thanh T và bà Nông Thị L; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2023 đến ngày 30/9/2023 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “bảo lĩnh”, hiện đang tại ngoại tại địa phương được áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/10/2023 đến nay (có mặt).
Bị hại: Anh Phạm Hoàng G, sinh 2001, địa chỉ: Xóm H, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nông Thị L, sinh năm 1978, địa chỉ: Xóm S, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
Người làm chứng: Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1991, địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đinh Quang H và anh Phạm Hoàng G là bạn bè quen biết nhau, cả hai thuê phòng trọ tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên ở chung từ ngày 15/5/2023. Khi cả hai ở chung, anh G có mang theo xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 20D1- 208.92 để làm phương tiện đi lại.
Do nợ nần không có khả năng trả nợ nên khoảng 09 giờ ngày 20/5/2023, khi cả hai đang ở phòng trọ thì H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô BKS 20D1-208.92 của anh G, để mang đi cầm cố lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định trên, H nói dối anh G “Cho tao mượn xe để đi về nhà” để anh G tin tưởng giao xe cho H, thực tế là để H chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên mang đi cầm cố. Do tin tưởng H nên anh G đã giao chìa khóa và xe mô tô cho H. Sau khi chiếm đoạt được xe, H điều khiển xe mô tô đi tìm quán cầm đồ để cầm cố lấy tiền, nhưng lúc này H nhận được thông tin bà nội của H ở quê bị ốm, nên H chưa mang chiếc xe đi cầm cố mà điều khiển xe đi về nhà ở xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên để thăm bà.
Đến ngày 22/5/2023, H tiếp tục ý định mang xe của anh G đi cầm cố, nhưng vì không có đăng ký xe, sợ cầm cố không được giá cao nên khoảng 08 giờ ngày 23/5/2023, H điều khiển xe quay lại phòng trọ, thấy anh G đang ngồi chơi ở phòng bên cạnh, H đã lấy trộm đăng ký xe anh G để ở trong ví cất dưới gối đầu ở giường ngủ. Sau khi lấy được đăng ký xe, H điều khiển xe mô tô của anh G đến quán cầm đồ “Hồ N" tại số C đường L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên do anh Nguyễn Xuân Đ làm quản lý và cầm cố xe mô tô của anh G để lấy 10.000.000 đồng. Số tiền cầm cố được, H lấy 8.000.000 đồng để trả nợ còn 2.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi cầm cố chiếc xe của anh G, H không về phòng trọ mà đến ở nhờ tại nhà bạn đến ngày 28/5/2023, H quay lại phòng trọ, anh G hỏi H về chiếc xe thì H nói dối là bị ngã xe và đang để xe ở quán sửa chưa xong. Ngày 09/6/2023, anh G tiếp tục hỏi H về chiếc xe thì H đã thừa nhận hành vi của mình với anh G. Anh G yêu cầu H đi chuộc xe về nhưng H không có khả năng tài chính nên không chuộc xe về cho anh G. Ngày 03/7/2023, anh G đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an phường T, thành phố T để giải quyết theo quy định.
Tại bản Kết luận định giá số 165/KL-HĐĐGTS ngày 15/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen bạc, số máy JA39E2341242, số khung: RLHJA3929MY222342, biển số 20D1-208.92, đã qua sử dụng, trị giá 11.900.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Đinh Quang H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lời khai nhận của H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: Xanh đen bạc, biển số 20D1-208.92, số máy JA39E2341242, số khung: RLHJA3929MY222342, đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên Phạm Hoàng G.
- 01 (một) đăng ký xe mang tên Phạm Hoàng G.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô cùng đăng ký xe trên Đinh Quang H cầm cố tại cửa hàng cầm đồ “Hồ N” do anh Nguyễn Xuân Đ làm chủ trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày 23/5/2023 đến ngày 02/6/2023. Sau khi quá thời hạn cầm cố, anh Đ đã bán chiếc xe mô tô cùng đăng ký xe trên cho một người đàn ông khác không rõ lai lịch, địa chỉ. Hiện không thu hồi được.
- 01 (một) đĩa DVD được niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa nội dung ghi âm, ghi hình lời khai của Đinh Quang H. Hiện được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Đinh Quang H đã tác động đến mẹ đẻ là bà Nông Thị L bồi thường cho anh Phạm Hoàng G số tiền 17.000.000 đồng, để anh G mua xe mô tô khác sử dụng. Anh G đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Vấn đề dân sự đã giải quyết xong.
Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá của Hội đồng định giá và việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Bản cáo trạng số 294/CT-VKS-TPTN ngày 01/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Đinh Quang H, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:
- Tuyên bố bị cáo Đinh Quang H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Quang H từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường, không có ý kiến gì nên không xem xét.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD được niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa nội dung ghi âm, ghi hình lời khai của Đinh Quang H, được chuyển theo hồ sơ vụ án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương với mức án thấp nhất để bị cáo rèn luyện, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Quang H:
Theo kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 9 giờ 00 phút, ngày 20/5/2023, tại phòng trọ của gia đình bà Ứng Thị V, thuộc tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, do nợ nần không có khả năng trả nợ nên Đinh Quang H đã có thủ đoạn gian dối, hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20D1-208.92, trị giá 11.900.000 đồng của anh Phạm Hoàng G. Sau khi mượn được xe, H mang chiếc xe mô tô trên đi cầm cố được số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền cầm cố được H đã trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đinh Quang H đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội có căn cứ pháp luật.
Nội dung Điều 174 Bộ luật Hình sự, như sau:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[3]. Xét hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị cáo Đinh Quang H đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương. Do đó, cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Đinh Quang H, thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động đến gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo có thái độ tỏ ra thực sự ăn năn hối cải. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả”, “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị cáo có ông nội là ông Đinh Văn K được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt đối với bị cáo: Xét thấy, bị cáo tuổi đời còn trẻ, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để bị cáo rèn luyện, cải tạo để trở thành công dân tốt và đảm bảo tác dụng giáo dục và răn đe phòng ngừa chung. Đồng thời, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người lần đầu phạm tội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Như vậy, về trách nhiệm dân sự đã được giải quyết xong.
[8] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) đĩa DVD bên trong chứa nội dung ghi âm, ghi hình lời khai của Đinh Quang H, cần lưu theo hồ sơ vụ án.
Đối với anh Nguyễn Xuân Đ là người nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20D1-208.92. Quá trình điều tra xác định anh Đ không biết chiếc xe mô tô trên là tài sản do H phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo Đinh Quang H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Đinh Quang H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Quang H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD được niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa nội dung ghi âm, ghi hình lời khai của Đinh Quang H.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2016 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Đinh Quang H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo Đinh Quang H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên - VKSND TP. Thái Nguyên; - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Nhàn |
Bản án số 330/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 330/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoat tài sản
