|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 330/2024/HS-ST Ngày: 29-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Cảnh;
- Ông Nguyễn Văn Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tất Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 306/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 303/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đơn Văn P (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1995 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nơi tạm trú: F đường T, ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đơn Văn T, sinh năm: 1967 và bà Trần Thanh T1, sinh năm: 1966; anh chị em ruột: 02 người kể cả bị cáo; vợ: Thị Cẩm L, sinh năm: 1995; con: 02 người sinh năm 2015 và sinh năm: 2017; tiên án, tiên sự: Không.
- Họ và tên: Huỳnh Văn T2 (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1999 tại tỉnh Kiên Giang; nơi thường trú: Số C ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; nơi tạm trú: C ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H, sinh năm: 1975 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1973; chị em ruột: 03 người kể cả bị cáo; vợ: Thị Cẩm T3, sinh năm: 1997; con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2018 và nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/7/2024 đến nay và hiện có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/7/2024 đến nay và hiện có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty Cổ phần Chiếu sáng Công cộng Thành phố H; người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Huỳnh Thanh H1, chức vụ: Phó Giám đốc phụ trách Chiếu sáng khu vực T4 trực thuộc Công ty cổ phần Chiếu sáng công cộng Thành phố H; địa chỉ: Số B Đường A, khu T, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Ông Lê Nguyễn Anh T5, sinh năm: 1979; địa chỉ: Tổ G, Ấp D, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Ông Nguyễn Chí Q, sinh năm: 1983; địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bà Lưu Thụy Hồng H2, sinh năm: 1980; địa chỉ: 8 đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đơn Văn P nhiều lần điều khiển xe ô tô tải biển số 51C-338.23 lưu thông trên đường T nhìn thấy có nhiều cây trụ điện xi măng để ở lề đường khu vực đồng mả thuộc Ấp D, xã P, huyện C không có người trông coi. P nảy sinh ý định lấy trộm trụ điện để bán kiếm tiền tiêu xài.
Khoảng 22 giờ 00 ngày 22/3/2022, tại khu vực bãi xe H3 thuộc địa chỉ số F, đường T, ấp Đ, xã B, huyện H, P cùng Huỳnh Văn T2 đi làm, P điều khiển xe ô tô tải biển số 51C-338.23 chở T2 đến khu vực xã P, huyện C và đậu xe trên đường N đợi văng người để lấy trộm trụ điện xi măng. Khoảng 01 giờ 30 ngày 23/3/2022, P quan sát thấy vắng người nên điều khiển xe lưu thông trên đường N và rẽ phải ra đường T hướng về Bình Dương và dừng xe ở khu vực đồng mả thuộc Ấp D, xã P, huyện C, P điều khiển cần cẩu và nói với T2 nhanh chóng buộc dây vào cây trụ điện ở dưới lề đường để cẩu lên xe vì lấy trộm của người khác, lúc này T2 biết P lấy trộm trụ điện và phụ giúp P lấy trộm được 02 cây trụ điện mới và 02 cây trụ điện cũ đã qua sử dụng để trên xe ô tô tải. Sau đó, P điều khiển xe đi về và để 04 cây trụ điện ở bãi xe H.
Khoảng 22 giờ 00 ngày 24/3/2022, P tiếp tục rủ T2 đi lấy trộm trụ điện xi măng ở khu vực đồng mả thuộc Ấp D, xã P, huyện C, T2 đồng ý. P điều khiển xe ô tô tải biển số 51C-338.23 chở tên T2 đến khu vực xã P, huyện C và đậu xe trên đường N đợi vắng người để lấy trộm trụ điện xi măng. Khoảng 01 giờ 30 ngày 25/3/2022, P quan sát thấy vắng người nên điều khiển xe lưu thông trên đường N và rẽ phải ra đường T hướng về Bình Dương và dừng xe ở khu vực đồng mả thuộc Ấp D, xã P, huyện C, P điều khiển cần cẩu và T2 buộc dây vào cây trụ điện ở dưới lề đường để cẩu lên xe, khi lấy trộm được 02 cây trụ điện mới và 02 cây trụ điện cũ đã qua sử dụng thì bị ông Lê Nguyễn Anh T5 và ông Nguyễn Chí Q là nhân viên Công ty Cổ phần chiếu sáng công cộng Thành phố H phát hiện bắt quả tang thì P cẩu trả lại 04 cây trụ điện vừa mới trộm được rồi bỏ chạy. Ông T5 và ông Q truy đuổi đến khu vực xã T, huyện C quần chúng nhân dân bắt giữ bàn giao cho Công an xã P làm việc.
Kiểm tra chất ma túy đối với P và T2, kết quả: đều dương tính với ma tuý tổng hợp.
Vật chứng thu giữ: (BL 47-49, 52):
- Thu giữ của Đơn Văn P:
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, tiền ngân hàng N1: 590.000 đồng.
- + 01 chiếc xe ô tô tải biển số 51C-338.23, số máy: W04DTN13317, số khung: RNJCJ43H483000164, nhãn hiệu HINO, loại xe tải có cần cẩu, màu sơn: Trắng, số loại: WU342L.
- + 02 trụ điện mới có cùng kí hiệu 85PC 2002021, mỗi trụ dài 8,50 mét, đường kính đầu trên 16 cm, đường kính đầu dưới 24 cm;
- + 02 trụ điện mới có cùng kí hiệu 85PC 2002021, mỗi trụ dài 8,50 mét, đường kính đầu trên 16 cm, đường kính đầu dưới 20 cm;
- + 01 trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu TDCT 85-TU, dài 6,75 mét, đường kính đầu trên 13 cm, đường kính đầu dưới 15 cm; 01 trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu TP 84/2 HC VCPC, dài 8,40 mét, đường kính đầu trên 12 cm, đường kính đầu dưới 24 cm;
- + 01 trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu TĐ LP85-TU, dài 6,50 mét, đường kính đầu trên 16 cm, đường kính đầu dưới 20cm,
- + 01 trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu 89, P, B, dài 6,50 mét, đường kính đầu trên 16cm, đường kính đầu dưới 20cm.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 112/KL-HĐĐGTS ngày 11/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C kết luận:
Giá trị tài sản bị thiệt hại vào ngày 25/3/2022 gồm: 02 trụ điện mới có cùng kí hiệu 85PC 2002021, mỗi trụ dài 8,5 mét, đường kính đầu trên 16 cm, đường kính đầu dưới 24 cm, 01 trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu TDCT 85-TU, dài 6,75 mét, đường kính đầu trên 13 cm, đường kính đầu dưới 15 cm và 01 trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu TP 84/2 HC VCPC, dài 8,40 mét, đường kính đầu trên 12 cm, đường kính đầu dưới 24 cm có tổng giá trị là 12.705.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 226/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C kết luận:
Giá trị tài sản bị thiệt hại vào ngày 23/3/2022 gồm: 02 trụ điện mới có cùng kí hiệu 85PC 2002021, mỗi trụ dài 8,50 mét, đường kính đầu trên 16 cm, đường kính đầu dưới 20 cm; 01 trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu TĐ LP85-TU, dài 6,50 mét, đường kính đầu trên 16 cm, đường kính đầu dưới 20 cm và 01 trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu 89, P, B, dài 6,50 mét, đường kính đầu trên 16 cm, đường kính đầu dưới 20 cm có tổng giá trị là 11.010.000 đồng.
Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Đơn Văn P và Huỳnh Văn T2 đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo Đơn Văn P và bị cáo Huỳnh Văn T2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đồng ý với Bản kết luận định giá tài sản số 112 ngày 11/7/2022 và Bản kết luận định giá số 226 ngày 15/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.
Bản cáo trạng số: 287/CT-VKS.CC ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Đơn Văn P và bị cáo Huỳnh Văn T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 01 giờ 30 phút các ngày 23/3/2022, 25/3/2022 tại Âp D, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Đơn Văn P điều khiển xe ô tô tải biển số 51C-338.23 chở Huỳnh Văn T2 thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 04 trụ điện mới và 04 trụ điện cũ của Công ty Cổ phần Chiếu sáng công cộng Thành phố H. Giá trị tài sản chiếm đoạt là: 23.715.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đơn Văn P và bị cáo Huỳnh Văn T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, Đơn Văn P và Huỳnh Văn T2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; phạm tội 02 lần trở lên. Áp dụng điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Xử phạt bị cáo Đơn Văn P từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T2 từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
Bị cáo P và bị cáo T2 không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo P nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo T2 nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, bị cáo Đơn Văn P và bị cáo Huỳnh Văn T2 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng 287/CT-VKS.CC ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tô. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án: Bị cáo Đơn Văn P nhiều lần điều khiển xe ô tô tải biển số 51C-338.23 lưu thông trên đường T nhìn thấy có nhiều cây trụ điện xi măng để ở lề đường khu vực đồng mả thuộc ấp D, xã P, huyện C không có người trông coi. P nảy sinh ý định lấy trộm trụ điện để bán kiếm tiền tiêu xài. Khoảng 01 giờ 30 phút các ngày 23/3/2022, 25/3/2022 tại ấp D, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Đơn Văn P điều khiển xe ô tô tải biển số 51C-338.23 chở Huỳnh Văn T2 thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 04 trụ điện mới và 04 trụ điện cũ của Công ty Cổ phần Chiếu sáng công cộng Thành phố H, tổng giá trị thiệt hại của tài sản bị chiếm đoạt là: 23.715.000 đồng (theo Bản kết luận định giá tài sản số 112 ngày 11/7/2022 và Bản kết luận định giá số 226 ngày 15/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện C). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo P và bị cáo T2 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, đúng tội, đúng người.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì mục đích thỏa mãn nhu cầu có tiền xài cá nhân mà các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty Cổ phần Chiếu sáng công cộng Thành phố H. Hành vi nêu trên của bị cáo P và bị cáo T2 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm và tương xứng, phù hợp để răn đe, cải tạo và giáo dục các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của các bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
[3] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này có đồng phạm giản đơn, bị cáo P là người chuẩn bị phương tiện và rủ rê bị cáo T2 thực hiện tội phạm; còn tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của 02 bị cáo là như nhau, cùng tham gia thực hiện tội phạm. Vì vậy, mức hình phạt dành cho bị cáo P cao hơn bị cáo T2.
[5] Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, tiền ngân hàng N1: 590.000 đồng. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo P, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo P là phù hợp; Viện kiểm sát không có ý kiến, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 (một) chiếc xe ô tô tải biển số 51C-338.23, số máy: W04DTN13317, số khung: RNJCJ43H483000164, nhãn hiệu HINO, loại xe tải có cần cẩu, màu sơn: Trắng, số loại: WU342L. Qua xác minh, đây là xe của bà Lưu Thụy Hồng H2 cho bị cáo P thuê để vận chuyển hàng hóa, không biết P thuê dùng để trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bà H2 là phù hợp; Viện kiểm sát không có ý kiến, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 02 (hai) trụ điện mới có cùng kí hiệu 85PC 2002021, mỗi trụ dài 8,50 mét, đường kính đầu trên 16 cm, đường kính đầu dưới 24 cm; 02 trụ điện mới có cùng kí hiệu 85PC 2002021, mỗi trụ dài 8,50 mét, đường kính đầu trên 16 cm, đường kính đầu dưới 20 cm; 01 (một) trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu TDCT 85-TU, dài 6,75 mét, đường kính đầu trên 13 cm, đường kính đầu dưới 15 cm; 01 (một) trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu TP 84/2 HC VCPC, dài 8,40 mét, đường kính đầu trên 12 cm, đường kính đầu dưới 24 cm; 01 (một) trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu TĐ LP85-TU, dài 6,50 mét, đường kính đầu trên 16 cm, đường kính đầu dưới 20cm, 01 (một) trụ điện cũ bị bể chân trụ có kí hiệu 89, P, B, dài 6,50 mét, đường kính đầu trên 16cm, đường kính đầu dưới 20cm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho Công ty Cổ phần Chiếu sáng công cộng Thành phố H là phù hợp; Viện kiểm sát không có ý kiến, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Công ty Cổ phần Chiếu sáng công cộng Thành phố H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về nghĩa vụ chịu án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bị cáo P và bị cáo T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đơn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Đơn Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2024.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2024.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Buộc bị cáo Đơn Văn P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo Huỳnh Văn T2 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Anh Đạt |
Bản án số 330/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 330/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Đơn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Đơn Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2024. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2024.
